Thiền Tứ Niệm Xứ

Quyển sách bé này được viết ra nhằm phần đích giới thiệu sở hữu quý độc giả đang đi tìm giải thoát và nhất là thích tu thiền, 1 phương pháp hành thiền mà ít người để ý, ấy là pháp Tứ Niệm Xứ.

Phần Lục:

[1] Vài lời cùng bạn đọc [2] Mở đầu [3] Tứ Niệm Xứ và Bát Nhã Tâm Kinh [4] Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông [5] Thiền và Tịnh Ðộ [6] Tứ Niệm Xứ và Bồ Tát Ðạo [7] Phương pháp hành thiền Tứ Niệm Xứ [8] Kết luận [9] Phụ Lục – Kinh Quán Niệm

1. Vài lời cùng bạn đọc

Quyển sách bé này được viết ra nhằm phần đích giới thiệu sở hữu quý độc giả đang đi tìm giải thoát và nhất là thích tu thiền, 1 phương pháp hành thiền mà ít người để ý, ấy là pháp Tứ Niệm Xứ.

Ðức Phật Thích Ca xưa kia do tu Thiền mà giác ngộ giải thoát. Ngày nay những ai có chí xuất trần, nhận rõ cảnh đời nhiều đau khổ và muốn giải thoát ngay trong kiếp hiện tại hãy nên tu Thiền. Nhưng lúc nói tới Thiền thì nhiều người hoang mang trong mình vì có cả 1 rừng Thiền nào là Như Lai Thiền, Tổ Sư Thiền, Thiền Ðốn Ngộ, Thiền Ông 8, Thiền Yoga, Thiền Tây Tạng, Thiền Zen… ko biết theo ai trên thực tế}? Trường hợp tới chùa hỏi Thầy thì gần như những chùa chiền đều tu theo Tịnh Ðộ, chỉ chuyên tụng kinh, khiến đám. Vì ko ai chỉ dạy nên người chán nản thì theo đại 1 phái Thiền khác. Trường hợp là Thiền Phật giáo như Tây Tạng hay Zen thì còn đỡ, nhưng trường hợp chẳng might rơi vào Thiền ngoại đạo thì ôi thôi, ko những uổng 1 kiếp này mà còn uổng cả muôn ngàn kiếp sau, vì sai 1 ly đi ngàn dặm. Cổ nhân có câu: “Thà đành ngàn 5 ko ngộ, ko cam 1 phút sai lầm”.

Tứ Niệm Xứ là 1 pháp hành Thiền do chính Ðức Phật xưa đã đích thân chỉ dạy cho những đệ tử. Nhờ có hành theo ấy, những đệ tử đã giải thoát đắc quả vô sanh (A La Hán). Cũng 1 phần do ấy mà 1 số người theo Ðại Thừa đã bỏ qua và lãng quên pháp hành này, cho rằng ấy là pháp Tiểu Thừa. Phật pháp ko có đại hay tiểu, có chăng là do chính chúng ta ưa phân biệt đặt ra mà thôi.

Ðể giới thiệu và giúp cho độc giả có 1 ý niệm về tầm quan yếu của pháp này, tôi sẽ so sánh trong phần đầu Kinh Tứ Niệm Xứ sở hữu Bát Nhã Tâm Kinh. Thiền Niệm Xứ hay Minh Sát sở hữu Tổ Sư Thiền, và tiếp theo sẽ nói về phương thức tu tập Thiền Tứ Niệm Xứ.

Vì ko bên cạnh phần đích giới thiệu sơ qua về “pháp hành” Thiền Tứ Niệm Xứ, cứng cáp chắn độc gỉa sẽ cảm thấy nó khô khan, vô vị, ko mấy hứng thú. Nhưng ko có 1 sự giác ngộ nào có thể có được trường hợp chính ta ko chịu thực hành, ko chịu trở về xem nội tâm, theo dõi và ghi nhận đa số những hoạt động biến chuyển của pháp, ko chịu nương theo Giới, Ðịnh, Huệ. Người tiêu dùng hãy suy nghĩ và tu tập theo Tứ Niệm Xứ, trường hợp thấy hợp và có nhân duyên thì người dùng chịu khó lên đường tìm Thầy hoặc bạn để học hỏi thêm, trường hợp ngược lại thì cứng cáp bạn ko có nhân duyên rồi, phải chăng hơn là nên đi tìm phương pháp khác vậy.

Mùa Thu 5 Ðinh Mão 1987 tại Thiền Ðường Sakyamuni, Montbéon. Thích Trí Siêu

2. Mở đầu

“Tu là cõi phúc, Tình là giây oan”, “Ðời là bể khổ, Tu là giải thoát”. Nhưng tu là tu chiếc gì? Tu khiến sao? Tu có buộc phải ăn hiền trên lành, ăn chay niệm Phật ko? Hay buộc phải vào chùa cạo tóc xuất gia là tu chăng?

Tại đây xin miễn nói về triết lý đạo Phật vì Kinh sách nói về triết lý đạo Phật đã có siêu nhiều, nhưng quy tụ cũng ko bên cạnh Tứ Diệu Ðế. Quý vị có thể tìm sách nghiên cứu, hoặc là tới chùa thăm hỏi quý Thầy, quý Cô chỉ cho.

Về Tứ Diệu Ðế, trong những kinh sách thường nói như vầy: Khổ đế là quả luân hồi. Tập đế là nhân luân hồi. Diệt đế là quả Niết Bàn. Ðạo đế là nhân Niết Bàn. Dĩ nhiên chắn Tứ Diệu Ðế là chân lý cao thượng, nhưng theo tôi nghĩ thì Ðạo đế quan yếu hơn cả. Vì chỉ có Ðạo đế new khiến đạo Phật khác hẳn những đạo khác. Vì sao? Vì những đạo khác cũng biết đời là khổ, biết tu hành để cầu sự sung sướng, nhưng con đường đi của họ ko thể đưa tới sự giải thoát rốt ráo.

Khổ thì chúng ta đã khổ rồi, nguyên nhân của khổ thì chúng ta đã tạo rồi, Niết Bàn thì chưa đạt tới, chỉ có con đường đưa tới Niết Bàn mà chúng ta cần và đang tiến bước là hiện tại. Chỉ có giờ phút hiện tại là chúng ta có thể sung sướng hay khổ đau, là phải chăng hay xấu mà thôi. Ngày hôm qua anh B có thể đã thịt bao mạng người, nhưng ngày hôm nay đây anh đang cứu sống tôi. Nói như thế, độc giả có thấy được tầm quan yếu của giờ phút hiện tại ko?

Trường hợp thấy được chỉ có trong giờ phút hiện tại mà ta có thể là 1 người hiền hay ác, sung sướng hay đau khổ, giác ngộ hay vô minh, thì người dùng sẽ cảm thấy hứng thú hành theo pháp Thiền này. Tu Thiền vì sao ít có người hành? Vì đa số chỉ thấy ngày hôm qua và ngày mai thôi, họ ít thấy hiện tại. Những người tu theo Tịnh Ðộ cũng vậy, họ ko chịu thấy hiện tại, họ chỉ muốn thấy ngày sau (lúc chết) được trên Cực Lạc. Trên sự thật} chỉ lo đếm tiền, tới tối new đi niệm Phật vài chuỗi gọi là lấy công sở hữu Ðức Phật Di Ðà. Người tu theo pháp môn tụng Kinh thì chỉ ưa tụng những Kinh Ðại Thừa nổi danh như Pháp Hoa, Niết Bàn, Hoa Nghiêm, Kim Cang… Từng lúc tới chùa, có ai hỏi độ này tu hành ra sao, thì trả lời: “Ðộ này tôi tụng được 7 bộ Pháp Hoa, 4 bộ Niết Bàn…” rồi lấy ấy khiến hãnh diện cho là mình tu nhiều. Kỳ thực tham, sân, si ngã mạn của mình ko giảm, mà có điều lại nâng cao thêm. Ðến chùa thì chỉ hay ăn nói khoe khoang, khen Thầy này, chỉ trích Thầy kia, thế này thế nọ… Ðây ko buộc phải chỉ trích ai cả mà để nói lên tình trạng tâm lý của đa số những người tu theo pháp môn tụng Kinh, niệm Phật.

Còn Thiền thì sao? Tình trạng tâm lý của những người tu Thiền có hơn gì người tu Tịnh Ðộ ko? Người tu ngày nay chỉ chuyên nghiên cứu Thiền, rõ biết lịch sử của chư Thiền Ðức thuở xưa. Từng lúc nói tới Thiền, thường đem ra nhắc cho Phật tử nghe để rồi gieo cho họ ý nghĩ là Thiền dành cho những hàng thượng căn thượng trí, còn thời nay mạt pháp, chúng ta là hạ căn độn trí chỉ nên niệm Phật cho cứng cáp ăn. Những hành động, cũng như thành tích của những Thiền Sư chứng ngộ đều có tính phương pháp lạ kỳ, phá chấp, nên nhiều người học Thiền thời nay đều hay bắt chước để rồi tưởng mình cũng phá chấp, phá ngã, ấy thực là 1 điều tai hại và lầm lẫn. Là bậc Thầy, nên chỉ dẫn cho Phật tử phương pháp hành Thiền, chứ đừng nên nhắc chuyện Thiền. Dĩ nhiên lúc nói về phương pháp hành Thiền thì thấy khô khan và dễ khiến chán nản cho người nghe, còn trường hợp nhắc chuyện Thiền thì hấp dẫn và vui hơn. Ðó có khác chi 1 đàng chỉ dẫn phương pháp thức khiến bánh, và đàng khác là tả sự ngon ngọt của 1 chiếc bánh đã thành hình. 1 đàng là nhân, 1 đàng là quả. Người trí học tạo nhân vì biết quả sẽ do ấy tự động thành, người thường chỉ lo biết quả chẳng chú ý nhân. Ðức Phật xưa kia ko nói nhiều về cảnh giới của Niết Bàn, ngược lại, Ngài đã giảng dạy suốt 45 5 về những phương pháp đưa tới giải thoát mà ngày nay chúng ta quen gọi là Ðạo Phật.

Ðiều sai lầm của 1 số người “tu Thiền” (hay là học Thiền) thời nay là chỉ thích đem Kinh sách Thiền ra bàn luận và giảng giải xuyên qua sự hiểu biết của mình.

Thay đổi vì nói nhiều về Thiền, 1 vị Thầy có thể bảo Thiền sinh nhẹ nhàng ngồi xuống, bắt chéo chân theo tư thế bán già hoặc kiết già rồi theo dõi tương đối thở. Thay đổi vì ăn uống vội vã hấp tấp cho xong để còn lo đi khiến việc khác, 1 vị Sư có thể lặng lẽ, chậm chạp nâng tách trà lên uống thong thả, ấy là dạy Thiền 1 phương pháp quản lý, ko cần dùng ngôn ngữ danh từ. Thay đổi vì bắt 1 chú tiểu học thuộc làu bộ Tỳ Ni, Oai Nghi rồi bắt chú trả bài có lệ trước lúc cho thọ giới, vị Thầy ấy có thể kiểm soát quản lý hoặc cho đệ tử biết giữ chánh niệm, khiến việc thong thả, chậm rãi, theo dõi từng cử động của thân thể v.v…

Những nước tu theo Ðại Thừa thường ko có địa thế và hoàn cảnh thuận tiện cho việc tu hành nội tâm, chư Nâng cao buộc phải thường tiếp xúc việc xã hội, quốc gia nhiều, trên trong tình thế dễ khiến mất chánh niệm, Nhất là ngày nay, quý Thầy lo tạo chùa lớn, tượng lớn muốn “hoằng dương chánh pháp”, báo Phật ân đức, hành Bồ Tát đạo, thế nên nhiều đầu công mối nợ, Nâng cao Ni trong chùa buộc phải chấp tác nhiều hơn, và những công việc chùa chẳng khác những việc bên cạnh đời là bao. Lúc những đệ tử trên vào tình thế, hoàn cảnh dễ mất chánh niệm, dễ phiền não, lúc ấy những bậc Thầy new sáng tạo ra những phương thức new mẻ hầu giúp cho đệ tử trở về chánh niệm, thúc liễm thân tâm.

Kinh sách Ðại Thừa của chúng ta siêu phong phú, nhưng ngày nay người tu theo Ðại Thừa phần đông chỉ còn là những học giả. Có danh nghĩa hành Bồ Tát đạo, tùy thuộc} thuận chúng sanh để độ họ, chúng ta đã biến đổi nhiều, và đã đi quá xa phần đích chính của đạo Phật là tìm cầu giác ngộ giải thoát.

Có người bảo Ðại Thừa là sửa đổi giáo pháp khiến sao cho hợp thời cơ để độ càng nhiều chúng sanh càng phải chăng. Nhưng ta hãy nhìn lại xem, hãy so sánh Phật tử Ðại Thừa (Việt Nam, Tàu, Nhật, Ðại Hàn) và Phật tử Tiểu Thừa (Thái Lan, Tích Lan, Miến Ðiện…) xem ai thuần thành hơn, ai sùng đạo và đông hơn? Phật tử Ðại Thừa, nhất là Việt Nam, thường hay xem thường và chỉ trích chư Nâng cao. Dĩ nhiên hẳn có những Phật tử ko hiểu đạo, ăn ko nói có, nhưng cũng có 1 số người xuất gia tu hành chân chánh. Tuy nhiên chúng ta ko nên “vơ đũa cả nắm”. Chuyện gì xẩy ra cũng có nhân duyên của nó, ko có ai đúng và ko có ai lỗi cả, trường hợp đúng thì đúng hết, trường hợp lỗi thì lỗi cả. Tại đây ta chỉ nên nhận định 1 phương pháp khách quan tình trạng Phật giáo Việt Nam mà thôi.

Học rộng, thanh toán nhiều, tụng Kinh, thuyết pháp, ấy là “nghề” của chư Nâng cao. Còn sống lặng lẽ, xa lìa ngũ dục, trở về nội tâm thì sao? Quý Thầy ít cho Phật tử thấy chiếc gương ấy! Vẫn biết buộc phải “y pháp bất y nhân”, nhưng ngày nay là đời mạt pháp, căn cơ chúng sanh yếu kém, họ đâu có thể y theo câu ấy 1 phương pháp dễ dàng. Và tới lúc nào ấy, người thuyết pháp buộc phải ngưng thuyết pháp và khởi đầu “thực hành” để khiến gương cho họ thấy rõ hơn, để lòng tin của họ vững cứng cáp hơn.

Nhìn lại những quốc gia theo Phật giáo Nguyên thủy, mang trong mình tiếng chỉ lo tự động độ, ích kỷ, nhưng tại sao Phật giáo trên những nơi ấy lại là quốc giáo? Tại sao chư Nâng cao trên ấy ko cần ứng phú, khiến đám, cầu an, cầu siêu, độ sanh, mà Phật tử vẫn theo, vẫn kính nể? Vì từng người biết và lo khiến bổn phận của mình. Những Sư chỉ lo tu hành, còn Phật tử thì chỉ biết mình có bổn phận hộ trì cúng dường chư Nâng cao để những vị đấy sớm thành đạo quả, và ko đòi hỏi gì khác hơn là Thầy tu chỉ lo tu thôi.

Còn Phật giáo Việt Nam thì sao? Quý Thầy (chịu tương tác Tàu) chế đặt ra nhiều nghi thức cúng kiến, những lễ lược, văn nghệ để “tùy thuộc} thuận chúng sanh” để rồi cuối cùng bị kẹt trong đấy, bị biến thành viên chức của những nghi thức lễ lược đấy. Phật tử chỉ tới chùa lúc trong gia đình có người chết hay bị bệnh để cầu siêu, cầu an, hoặc lúc có đám chay, đám tiệc, lúc xong thì lấy tiền ra cúng dường quý Thầy hay nói đúng hơn là trả công cho quý Thầy, ko còn biết cúng dường hay bố thí 1 phương pháp trong sạch, bất vụ lợi. Nhất là gần như những chùa Việt Nam hải ngoại đều theo Tịnh Ðộ, lấy tụng Kinh ứng phú khiến đầu, làm Phật tử trở nên xem những vị Sư như những “thợ tụng”. Thầy nào tụng ko hay, giọng ko phải chăng thì ko tới chùa ấy nữa. Rồi thì quý Thầy sống trong vòng lẩn quẩn, ko khiến thợ tụng thì ko được, vì sẽ ko còn được coi như là 1 ông thầy nữa. Vị nào ý thức điều ấy mà muốn thoát ra cũng khó, vì trường hợp thoát ra lại sợ sẽ ko có Phật tử cúng dường, nên đành nhắm mắt, xuôi tay trôi theo thế tình. Trong 1 gia đình, ai có đông con là tự động biết mình có nhiều oan gia ràng buộc, trong chùa cũng vậy, vị Thầy nào có nhiều Phật tử ưa chuộng mình thì cũng có nhiều sự ràng buộc, nhưng đa số quý Thầy lại lấy ấy khiến hãnh diện, tưởng là mình khéo chỉ dẫn Phật tử, mà thực ra đã vô tình khiến nô lệ cho Phật tử.

Chùa lớn, nổi danh, đông Phật tử là những điều mà đa số người xuất gia ngày nay đều lấy ấy khiến phần đích đánh dấu sự thành công của mình trên đường đạo.Là Ðại Thừa, theo Bồ Tát đạo, ta được quyền mở mang trong mình, dùng mọi phương tiện phát triển thành đạo, nhưng xin đừng quên và đi quá xa nguồn gốc.

Thiền trong Phật giáo Việt Nam bị lãng quên, ko những bị lãng quên mà có lúc ko có chỗ đứng nữa. Số Phật tử lui tới chùa thường là những người già lớn tuổi, trong ấy đa số lại là phụ nữ, tính tình hay cầu cạnh, nương tựa, nên siêu thích hợp sở hữu lối tu cầu tha lực (Tịnh Ðộ). Thể theo nhu cầu ấy, những chùa đã được dựng lập khá nhiều, nhưng đều lấy cúng kiến khiến Phật sự chính.

Những người thanh niên tuổi trẻ, ưa chuộng đạo Phật lại thường ko hay tới chùa, ko khí trên chùa ko hợp sở hữu họ. Họ là những người thích tự động lực, ko thích nương tựa mãi nơi cha mẹ, muốn tạo dựng sung sướng sở hữu chính 2 bàn tay của họ. Ðến sở hữu đạo Phật, họ chỉ thích tu Thiền, nói Thiền. Nhưng tu Thiền là tu khiến sao? Tôi thấy có nhiều người chỉ “quy y sách Thiền” chứ ko quy y Tam Bảo (Phật, Pháp, Nâng cao). Vì ko thích lạy Phật, ko biết Phật pháp cơ bản, ko biết kính trọng những nhà Sư. Có việc buộc phải tới chùa thì nghênh ngang, tự động tại tựa như “Tổ Ðạt Ma”, họ bảo Thiền là phá chấp, “gặp Phật thịt Phật, gặp Ma thịt Ma”. Họ có biết đâu là đang gây chiếc nhân đọa địa ngục. Tuy vậy ta cũng ko nên trách cứ mà ngược lại nên cảm thương họ thì đúng hơn.

Như vậy trường hợp có người muốn tu Thiền thì buộc phải khiến sao? Cần tu theo Thiền nào? Sách viết về Thiền tông tương đối có khá nhiều, nhưng đa số viết về Thiền học, về văn chương ngôn ngữ Thiền, về triết lý Thiền, về Thiền Trung Hoa… Tại đây tôi muốn giới thiệu, hay đúng hơn là nhắc lại 1 phương pháp hành Thiền do chính Ðức Phật Thích Ca đã dạy cho những đệ tử, ấy là pháp Tứ Niệm Xứ. Pháp hành Thiền này, trong Phật giáo Ðại Thừa hầu như ít ai nhắc tới, mặc dầu những sách Phật học phổ thông có nói sơ qua trong 37 phẩm trợ đạo, nhưng nói 1 phương pháp quá ngắn gọn về phần lý thuyết và thiếu sót về phương pháp thức tu tập.

3. Tứ niệm xứ và Tâm kinh

Tứ Niệm Xứ là 1 pháp hành Thiền do từ Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna Sutta) là 1 Kinh siêu quan yếu trong Phật giáo Nam Tông. Còn Bát Nhã Tâm Kinh là 1 bài Kinh ngắn thường được tụng trong đa số những thời Kinh trong Phật giáo Ðại Thừa Việt Nam. 2 Kinh này ý nghĩa có xung khắc nhau ko?

A. Tứ Niệm Xứ

Kinh Niệm Xứ, thường được gọi là Kinh Tứ Niệm Xứ, là 1 trong những kinh trọng yếu nhất mà Ðức Phật đã thuyết giảng hơn 2500 5 về trước để luyện tập, uốn nắn, khiến cho quân bình và thanh lọc thân tâm.

Pháp Niệm Xứ được thiết lập trên sự áp đặt tâm niệm (Satipatthàna). “Sati” là niệm, “patthàna” là 1 hình thức rút ngắn của chữ Upatthàna có nghĩa là để sắp lại tâm của mình.

Mở đầu bài Kinh có chỉ dẫn rõ ràng:

“Sau đây là những lời mà tôi đã được nghe Ðức Thế Tôn dạy, hồi Ngài còn đang cư ngụ trên Kammassadhamma, 1 khu phố của giống dân Kuru. 1 hôm Ðức Thế Tôn gọi chư Nâng cao: “Này những Tỳ Kheo”. Chư Nâng cao đáp: “Thưa Ðức Thế Tôn, có chúng con đây”. Phật nói: ” Này quý vị, đây ta chỉ cho quý vị con đường duy nhất (ekàyano maggo) để có thể gạn lọc bản thân, vượt thoát mọi phiền não, tiêu diệt ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng ngộ Niết Bàn: Ðó là Pháp Niệm Xứ”.

Pháp Niệm Xứ có 4 phần, ấy là tinh chuyên chú niệm vào:

1/ Thân (Kàyànupassanà). Niệm thân. 2/ Thọ hay cảm giác (Vedanànupassanà). Niệm Thọ. 3/ Tâm (Cittànupassanà). Niệm Tâm. 4/ Pháp (Dhammànupassanà) là những đối tượng của Tâm. Niệm Pháp.

Ðiểm chánh yếu trên đây là niệm (Sati) và sự chú tâm hay sự xem (anupassanà). Tại đây tôi chỉ tóm tắt đại ý của Kinh thôi.

1) Niệm thân. Hành giả quán niệm thân thể nơi thân thể. Xin độc giả lưu ý chữ quán niệm thân thể nơi thân thể, chứ ko buộc phải quán niệm thân thể nơi cảm thọ, hoặc quán niệm thân thể nơi tâm thức, v.v…

Vì ấy có nghĩa là ngay nơi thân thể, hành giả quán niệm về thân thể, chứ ko buộc phải nương theo nơi 1 cảm giác hay ý tưởng mà quán niệm về thân thể. Quán niệm về thân thể là quán sát và ghi nhận đa số những gì liên quan và đang xảy ra nơi thân thể.

Quán niệm về thân thể gồm có: tương đối thở vô-ra, 4 oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi), những động tác thông thường, những phòng ban trên trong thân thể, tứ đại và 9 giai đoạn tan rã của thân thể.

Trong pháp niệm thân, đặc biệt là phần niệm tương đối thở vô-ra (ànàpànasati). Hành giả ngồi xếp bằng thoải mái, đặt hết tâm ý vào sự theo dõi và ghi nhận tương đối thở vào, tương đối thở ra. Lúc hỉt vào 1 tương đối dài, hành giả biết mình đang hít vào 1 tương đối dài; lúc thở ra 1 tương đối dài, hành giả biết mình đang thở ra 1 tương đối dài… Ðây là 1 phương pháp hành thiền siêu phổ thông, vì nó có thể thích hợp cho mọi người, để lắng tâm, cũng như để gom tâm an trụ. Chính đức Phật xưa kia đã tận lực hành trì để chứng đạo quả vô thượng Bồ Ðề, và ngài cũng quả quyết khẳng định tầm quan yếu của pháp hành này.

2) Niệm thọ hay cảm giác.Hành giả quán niệm cảm giác nơi cảm giác, có nghĩa là giác tỉnh chú tâm ghi nhận “1 phương pháp khách quan” những cảm giác hay cảm thọ của mình: vui sướng (lạc thọ), đau khổ (khổ thọ), hoặc ko vui sướng cũng ko đau khổ (xả thọ), xem chúng khởi lên ra sao và biến mất như thế nào. Thí dụ lúc có 1 cảm giác vui, hành giả liền biết và ghi nhận: “có 1 cảm giác vui”, và như thế hành giả hay biết những cảm thọ khác và chứng nghiệm 1 phương pháp giác tỉnh những cảm giác đấy theo đúng thực tế, đúng như thực sự nó là như thế đấy.

Thường lệ, người ta hay thất vọng lúc chứng nghiệm 1 thọ khổ và phấn khởi vui sướng lúc thọ lạc. Công trình tu tập niệm thọ giúp cho hành giả chứng nghiệm đa số cảm giác 1 phương pháp khách quan, sở hữu tâm xả (bình thản), và hạn chế cho con người khỏi bị cảm giác của mình chi phối, khỏi buộc phải khiến nô lệ hay lệ thuộc nơi cảm giác.

3) Niệm tâm hay những hoạt động của Tâm.Trong lúc hành thiền, trường hợp có những ý nghĩ hay tư tưởng phát sanh thì hành giả buộc phải liền ý thức và ghi nhận chúng. Những tư tưởng trên đây có thể là phải chăng, là xấu, thiện hay bất thiện. Hành giả quán sát, theo dõi, nhìn cả 2 mà ko luyến tình ái hay bất mãn. Phương pháp quán sát tâm mình 1 phương pháp khách quan giúp cho hành giả thấu đạt bản chất và hoạt động thực sự của tâm. Những ai thường xuyên niệm tâm sẽ học được phương phương pháp kiểm soát và điều khiển tâm mình.

4) Niệm Pháp hay đối tượng tâm thức.Trong phần này hành giả quán niệm về: 5 hiện tượng ngăn che hay ngũ chiếc (Nivaranà): tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử, nghi hối – 5 nhóm tụ hợp hay ngũ uẩn (Khanda): sắc, thọ, tưởng, hành, thức – 6 giác quan và 6 loại đối tượng hay lục căn và lục trần (Ayatana): mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và hình sắc, âm thanh, mùi vị hương, vị nếm, xúc chạm, tư tưởng – 7 khía cạnh của sự ngộ đạo, Thất giác chi (Bojhangà): niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, hành xả – 4 sự thực cao quý, Tứ diệu đế (Catvari Ariya Sacca): khổ đau, nguyên nhân đưa tới khổ đau, sự chấm dứt khổ đau, và con đường dẫn tới sự chấm dứt khổ đau.

Và cuối cùng trong Kinh bảo rằng người nào thực hành 4 phép quán niệm trên, người đấy có thể có khả năng đạt được quả vị chánh trí ngay trên đây và trong kiếp này, hoặc trường hợp còn dư báo thì cũng đạt được quả vị ko còn trở lại.

Ðặc biệt trong Kinh này, được lập đi lập lại câu: “Vị đấy (hành giả) sống tự động do và ko bám víu vào 1 thứ gì trong thế gian”. “Tự động do” trên đây có nghĩa là thoát ra khỏi tình ái dục (tanhà) và tà kiến (ditthi), cùng đa số sự ràng buộc của danh sắc, 1 bản ngã thường còn hay 1 chiếc “Ta” vĩnh cửu.

Cũng cần nhấn mạnh là Pháp Tứ Niệm Xứ buộc phải được thực hành 1 phương pháp khách quan, có nghĩa là hành giả chỉ quán sát suông mà ko nên dính mắc vào đề phần, ko thấy mình liên lạc sở hữu đề phần. Lúc đấy hành giả new có thể nhìn thấy thực tướng của sự vật, thấy sự vật đúng như chúng là (yathàbhutan), chớ ko buộc phải thấy phớt bên bên cạnh, thấy dường như sự vật là như vậy.

Tứ Niệm Xứ buộc phải được xem như là 1 phương pháp hành thiền, chứ ko buộc phải 1 lý thuyết suông. Trong Phật giáo Ðại Thừa, 37 phẩm Trợ đạo thường ko được khai thác triệt để đúng sở hữu danh từ của nó, mà chỉ được xem như những lý thuyết cần để biết thôi. Trong những sách Phật Học cơ bản lúc nói tới Tứ Niệm Xứ thì thường định nghĩa và tóm tắt như sau

1/. Quán thân bất tịnh. 2/. Quán thọ thị khổ. 3/. Quán tâm vô thường. 4/. Quán pháp vô ngã.

Qua sự tóm tắt trên, ta thấy Tứ Niệm Xứ bị lý thuyết hóa 1 phương pháp chủ quan và cùng lúc tạo cho độc giả 1 thành kiến sai lầm về Tứ Niệm Xứ. Như quý vị đã xem qua trên phần trước là Tứ Niệm Xứ buộc phải được vận dụng 1 phương pháp khách quan.

– Về Niệm Thân (Kàyànupassanà) có 6 đề phần quán niệm, trong ấy có quán niệm về những phòng ban bên trong thân thể, và niệm về sự tan rã của 1 xác chết. Ko thể vì 2 đề phần này mà nói là quán thân bất tịnh. Trường hợp muốn đề cao đề phần quan yếu của niệm thân thì buộc phải lấy đề phần quán niệm về tương đối thở vô-ra, vì đề phần này đã được Ðức Phật dạy riêng trong Kinh quán niệm tương đối thở (Anàpànasati Sutta).

Trong những sách Phật Học, lúc nói Quán thân bất tịnh, cốt dạy cho độc giả quán tưởng khiến sao để thấy được sự bất tịnh của thân, nhằm phần đích nhàm chán, ghê tởm thân để ko còn bám víu vào nó nữa, và do ấy có thể trị bệnh tham dục. Ðó cũng là 1 phép quán hữu ích nhưng ko đúng sở hữu ý nghĩa niệm thân của Tứ Niệm Xứ.

– Về Niệm Thọ (Vedanànupassanà) là quán niệm và ghi nhận những cảm giác dễ chịu (lạc thọ), khó chịu (khổ thọ) hay bình thường (xả thọ), biết rõ tính phương pháp sanh diệt của chúng, nhờ có ấy hành giả thoát ra được sự ràng buộc của những cảm giác.

Trong những sách Phật Học, lúc nói về niệm thọ đã ngụ ý bảo độc giả quán tưởng khiến sao để thấy thọ là khổ, vì có nhận lãnh là có khổ. Chữ thọ được giảng sở hữu ý nghĩa là nhận lãnh 1 thứ đồ vật gì bên bên cạnh. “Thọ thì khổ” được xem là 1 phép quán dạy cho người ta bớt tham, nhưng ấy ko buộc phải ý nghĩa của niệm thọ trong Tứ Niệm Xứ.

– Về Niệm Tâm và Niệm Pháp cũng vậy. Trường hợp bảo quán tâm vô thường thì ko đúng. Chính vì sự hoạt động của Tâm tạo ra những ý niệm sinh diệt, diệt sinh trong khoảnh khắc nên gọi là vô thường. Vô thường là những ý niệm ấy chứ ko buộc phải Tâm. Còn bảo “Pháp vô ngã” thì đúng nhưng ko buộc phải ý nghĩa niệm pháp của Tứ Niệm Xứ.

B. Bát Nhã Tâm Kinh

Trong Phật giáo Bắc tông, chúng ta có thông lệ từng lúc tụng 1 thời Kinh nào đều mở đầu bằng thần chú Ðại Bi và cuối cùng kết thúc bằng Tâm Kinh Bát nhã. Gần như những phật tử tới chùa, ko ai là ko thuộc Bát nhã, do ấy nó được xem như 1 Kinh quan yếu vậy.

Bài Kinh này được Ngài Huyền Trang đời nhà Ðường dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán vào 5 649 Tây lịch. Toàn bài chỉ có 262 chữ. Bát nhã Tâm Kinh là nói tắt, trường hợp gọi cho đủ là Ma ha Bát nhã Cha la mật đa Tâm Kinh (Maha Prajnàpàramitàhrdaya Sùtra). Ma ha có nghĩa là lớn, Bát nhã là trí tụê, Cha la mật đa là tới bờ bên kia, Tâm (Hrdaya) là cốt lõi hay tinh yếu, chứ ko buộc phải tâm ý (citta). Ðại ý Kinh này nói về trí huệ rộng lớn có thể đưa hành giả sang bờ bên kia, tức bờ giải thoát.

Kinh này là Kinh nhật tụng của Phật tử tại gia cũng như xuất gia, và đã có siêu nhiều sách giảng giải về ý nghĩa Kinh này. Vì thế trên đây sẽ ko đi sâu vào chi tiết, mà chỉ hạn chế bình luận những điểm chính yếu của Kinh và tiếp theo so sánh nó sở hữu Kinh Tứ Niệm Xứ.

Toàn bộ Kinh có 262 chữ, nhưng đại ý của Kinh nằm gọn trong 25 chữ đầu: “Quán Tự động Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Cha la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai ko độ nhất thiết khổ ách”. Nghĩa là có 1 vị Bồ Tát tên là Quán Tự động Tại lúc thực hành sâu về Trí hụê Bát nhã thì Ngài soi thấy 5 uẩn đều “ko”, và từ ấy thoát mọi khổ nạn. Chữ “ko” trên đây thường ko được giảng giải rõ ràng, có sách nói “ko” là ko thiệt, có chỗ để nguyên chữ ko, có chỗ nói tánh nó là ko. Chữ “ko” trên đây nên được hiểu là ko có tự động tánh (vide de nature propre), chứ ko buộc phải ‘ko thiệt’ hay là “ko” đối sở hữu “có”. Chữ “ko” (sùnyatà, vacancy, vide) này siêu quan yếu, chính nó đã được xem như ứng dụng của hệ thống giáo lý Ðại Thừa.

Tiếp theo sau câu “Quán Tự động Tại… nhất thiết khổ ách”, tới câu “Xá Lợi tử, Sắc bất dị Ko, Ko bất dị Sắc, Sắc tức thị Ko, Ko tức thị Sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị “. Dịch nghĩa là Xá Lợi tử, Sắc chẳng khác ko. Ko chẳng khác Sắc, Sắc tức là Ko, Ko tức là Sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.

Trong phần Bát nhã Tâm Kinh trên đây chỉ bình luận 2 câu đầu này thôi vì nó tóm lược đa số những ý nghĩa quan yếu của Kinh. Còn những phần sau chỉ giảng giải thêm về tánh Ko, về những diệu dụng của nó, tôi thấy ko đem lại nhiều lợi ích cho người sơ cơ học đạo, mà ngược lại có thể biến họ thành những biện luận sư về tánh Ko.

Xem Thêm  Share có nghĩa là gì?

Kinh Bát nhã dạy chúng ta trường hợp muốn thoát khỏi mọi khổ nạn, đạt tới an vui, tự động tại của Niết Bàn, thì buộc phải thực hành Trí hụê Bát nhã, tức là quán chiếu khiến sao để thấy rõ 5 uẩn ko có tự động tánh. Nhưng buộc phải quán chiếu thế nào? Phương pháp thức tu tập ra sao? Theo tôi thấy thì Kinh này ko chỉ dạy phương pháp thức tu tập. Người đọc Kinh này rồi, ko thể đem ra vận dụng tu tập liền được trường hợp ko hiểu rõ nghĩa Kinh. Họ cần buộc phải nghiên cứu tìm tòi, suy luận về những lý nhân duyên sinh, bất nhị, tương tức, từ ấy new có thể hiểu được tánh Ko của ngũ uẩn. Nhưng hiểu rồi thì ấy cũng chỉ là trên phương diện ý thức mà thôi, chứ ko buộc phải thực chứng hay trực nghiệm. Những người hiểu được “5 uẩn giai ko” có thể có siêu nhiều, nhưng người thực nghiệm được “5 uẩn giai ko” thì cứng cáp có siêu ít.

Lại có nhiều người lấy câu ” Sắc tức là Ko” của Kinh Bát nhã ra khiến 1 triết lý đạo đức. Vì hiểu Kinh Phật dạy rằng đa số đều Ko, nên họ bảo rằng: “chiếc xe tương đối này tôi chạy thả ga, trường hợp hư thì bỏ, hoặc trường hợp có mất, thì tôi cũng ko buồn, vì (tôi coi) nó là Ko”. Họ lấy lý Ko này mà bảo mọi người đừng chấp vào đa số mọi sự, rồi từ ấy nẩy ra 2 hạng người: 1 hạng bất chấp đa số, phóng túng, muốn khiến gì thì khiến; 1 hạng khác thì ngược lại, yếm thế, chán đời, ko khiến gì cả, vì đa số là Ko, có khiến cũng chả được lợi ích gì. Vì nguyên nhân này Kinh Bát nhã cần buộc phải được giảng dạy kỹ càng và tế nhị.

Trong Kinh câu “Sắc bất dị Ko, Ko bất dị Sắc” quan yếu và cần được giảng nhiều hơn câu “Sắc tức thị Ko, Ko tức thị Sắc”. Trước lúc nói tại sao, tôi xin đưa ra vài thí dụ thông thường để bạn đọc hiểu rõ 2 câu trên.

Lấy thí dụ chiếc bàn. Chiếc bàn ko thể tự động nhiên mà có, nó có ấy là do sự hài hòa của những khía cạnh “ko buộc phải là bàn” như gỗ, cây, cưa, đinh, người thợ mộc, tiều phu, rừng, đất, nước, mưa, mặt trời, v.v… Trường hợp thiếu 1 trong những khía cạnh ấy thì chiếc bàn ko thể có được. Sự có mặt của chiếc bàn tùy thuộc} thuộc và liên quan mật thiết sở hữu những chiếc “ko bàn”. Do ấy ta có thể nói chiếc bàn chẳng khác gì chiếc “ko bàn”, những chiếc “ko bàn” lúc đủ nhân duyên hội hợp lại thành chiếc bàn, nên ta nói những chiếc “ko bàn” chẳng khác gì chiếc bàn.

Chữ “bất dị” (ko khác) trong câu “Sắc bất dị ko” muốn nói lên sự liên quan mật thiết của đa số sự vật (tương quan). Chiếc này có vì chiếc kia có, chiếc kia có vì chiếc này có; chiếc này ko thể có trường hợp ko có chiếc kia, và ngược lại cũng vậy.

1 thí dụ khác nói về bất dị: em bé 10 tuổi và ông già 70 tuổi. Em bé 10 tuổi theo thời kì lớn lên rồi già đi thành ông già 70. Em bé và ông già ko buộc phải là 2 người mà cũng ko hẳn là 1 người. Em bé theo thời kì trở nên ông già, có em bé nên new có ông già, nên em bé chẳng khác gì ông già (bất dị). Nhưng em bé 10 tuổi xưa kia tóc xanh đen, bé người, ngây thơ, còn ông già 70 tuổi hôm nay tóc bạc, cao gầy, nhiều kinh nghiệm; 2 hình dáng, 2 tâm tư khác nhau, ta ko thể nói em bé chính là ông già, hay em bé và ông già là 1 được (bất nhất). Vì trường hợp là 1 tại sao lại có 2 danh từ, em bé và ông già? Tại sao lại có 2 hình dáng khác nhau?

Mọi sự vật đều biến chuyển ko ngừng từng giây phút, từng sát na. Từ 1 vật A chuyển thành vật B, ta ko thể nói B khác A, mà cũng ko thể nói B là A được. Ðây chính là lý Bất dị, Bất nhất trong Trung quán (Madhyamikà) của Lengthy Thọ (Nagarjuna). Có nhiều vị nói Bát nhã thuộc pháp môn “bất nhị”, theo tôi nghĩ Bất nhị gồm có Bất dị và Bất nhất. Vì nguyên nhân này, thay đổi vì nói theo trong Kinh “Sắc bất dị Ko, Ko bất dị Sắc, Sắc tức thị Ko, Ko tức thị Sắc”, tôi sẽ nói là: “Sắc bất dị Ko, Ko bất dị Sắc, Sắc tức thị Sắc, Ko tức thị Ko”. Sắc chẳng khác gì ko, nhưng Sắc vẫn là Sắc, Ko vẫn là Ko. Nhờ có biết được Sắc chẳng khác gì Ko, nên ta thấy được tánh ko của chiếc bàn, nhưng Sắc vẫn là Sắc, nên ta ko từ bỏ chiếc bàn, mà ngược lại cũng thấy được diệu dụng của chiếc bàn. “Thực tế lý địa bất thọ nhất trần, vạn sự môn trung bất xả nhứt pháp”, tuy biết rằng ko có chiếc gì có thể gọi là chiếc bàn được, nhưng trường hợp có người chỉ vào chiếc bàn mà hỏi ta ấy là gì? Ta cũng buộc phải trả lời là chiếc bàn. Ðó là Trung-Ðạo.

C. So sánh Tứ Niệm Xứ và Bát Nhã Tâm Kinh

Kinh Tứ Niệm Xứ nói về 4 lãnh vực quán niệm. Bát nhã Tâm Kinh nói về quán chiếu 5 uẩn là ko. 1 Kinh quan yếu của Nam Tông – 1 Kinh thường bên Bắc Tông. 1 Kinh nói về phương pháp thức tu tập. 1 Kinh nói về triết lý cao siêu. 2 Kinh này có liên quan gì sở hữu nhau ko? New nhìn qua ta thấy dường như khác nhau, nhưng thực ra cả 2 Kinh đều nói về ngũ uẩn.

Ko buộc phải chỉ có Bát nhã Tâm Kinh nói về 5 uẩn là ko, trong những Kinh điển Pali, Ðức Phật đã thường nhấn mạnh tánh phương pháp vô thường, khổ, vô ngã của 5 uẩn:

“Này chư Tỳ Kheo, ngũ uẩn là vô thường (anicca); bất luận chiếc gì vô thường, ấy là khổ (dukkha), ấy là vô ngã (anatta), ko buộc phải là “của ta”, ko buộc phải là “Ta”, ko buộc phải là “bản ngã của ta”. Vậy buộc phải thấy nó bằng trí tụê tuyệt hảo, đúng như thực sự nó là như vậy. Người thấy được thực tướng của nó bằng trí tụê tuyệt hảo, tâm người đấy ko cố bám vào, xa lìa phiền não, được giải thoát” (Tương ưng bộ Kinh, Samyutta Nikàya, quyển III).

Trong Kinh Tứ Niệm Xứ, 4 lãnh vực quán niệm đều liên quan tới 5 uẩn:

– Niệm thân thuộc về vật chất liên quan tới Sắc uẩn. – Niệm thọ thuộc về cảm giác liên quan tới Thọ uẩn. – Niệm tâm thuộc về sự nhận định biết mình liên quan tới Tưởng uẩn. – Niệm pháp thuộc về tánh phương pháp khác biệt chủ quan liên quan tới Hành và Thức uẩn.

Có 1 điều khác biệt giữa 2 Kinh là: trong Kinh Tứ Niệm Xứ chỉ dạy hành giả quán niệm (quán sát và ghi nhận) quản lý và khách quan tánh phương pháp sanh diệt của ngũ uẩn, chứ ko buộc phải suy tưởng chúng qua 1 lý thuyết nào, trong lúc Bát Nhã Tâm Kinh dạy “chiếu kiến ngũ uẩn giai ko”, điều này có thể làm cho hành giả cố gắng tìm tòi, suy tưởng mượn những lý thuyết có thể giúp cho hành giả hiểu được tánh ko của ngũ uẩn.

Kinh Tứ Niệm Xứ dạy phương pháp thực hành mà ko nói nhiều về lý thuyết. Tuy nhiên trường hợp hành giả tinh tấn thực tập thì sẽ đích thân trực nghiệm tánh phương pháp vô thường của ngũ uẩn, và trường hợp hiểu được vô thường thì tự động nhiên sẽ hiểu được vô ngã. 2 danh từ vô ngã (anatta) và ko (sunyatà), theo tôi nghĩ, ko khác nhau là mấy. Vì Vô ngã là đứng trên phương diện 1 chúng sanh mà nói, còn Ko là trên phương diện pháp giới mà nói.

Tóm lại Kinh Tứ Niệm Xứ chỉ dạy phương pháp thức tu tập, dẫn tới kết quả là thấu đạt được ngũ uẩn là Ko (vô ngã), thuộc về Ðạo Ðế. Còn Bát Nhã Tâm Kinh nói về lý thuyết từ ngũ uẩn là Ko trở đi (tức về tánh Ko), thuộc về Diệt Ðế.

Người hành giả 1 lúc thành tựu được phép quán Tứ Niệm Xứ thì sẽ sống độc lập và ko bám víu vào bất cứ sự vật gì trong thế gian, câu này có khác gì “chiếu kiến ngũ uẩn giai ko độ nhất thiết khổ ách”.

Vì thế, muốn thực chứng Bát Nhã, hãy nên thực hành Tứ Niệm Xứ.

4. Tứ Niệm Xứ và Thiền tông

Như bạn đọc đã xem qua, Tứ Niệm Xứ là 1 pháp hành thiền siêu quan yếu mà xưa kia đa số những vị Thánh Nâng cao đã hành theo ấy mà đắc quả vô sanh (A La Hán). Dù quan yếu như vậy, nhưng sau khoản thời gian Ðức Phật nhập diệt, Tứ Niệm Xứ dần dần bị lãng quên. Ngay trên những nước theo Phật giáo Nguyên Thủy phương Nam, cũng ít có ai thực hành pháp môn này, đa số hành theo Thiền định (Samatha), còn trên những nước theo Phật giáo Ðại Thừa phương Bắc, thì Tứ Niệm Xứ (còn được gọi là Thiền Minh Sát, Vipassanà), được coi như thuộc pháp môn Tiểu Thừa, nên ko ai tu theo và khai thác cả. Riêng trên Việt Nam thì chư Tổ xưa kia đều là Thiền Sư, và Thiền trên Việt Nam bắt nguồn từ Trung Hoa, nên Thiền Việt Nam và Trung Hoa được xem như là 1 và thuộc Ðại Thừa.

Vì thấy tình trạng chia rẻ giữa Ðại và Tiểu, khiến cho 1 số Kinh sách cơ bản trong Tam Tạng Pàli bị lãng quên, nên tôi so sánh nơi đây phép hành Thiền Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông để quý vị thấy rằng 2 pháp môn này ko khác nhau là mấy.

A. Thiền Tông

Theo Bắc tông thì vị Thiền Tổ thứ nhứt là ngài Ma Ha Ca Diếp (Maha Kapa). Tiếp tục giòng Thiền được truyền tới vị Tổ thứ 28 là Bồ Ðề Ðạt Ma (Bodhidharma), tới đây giòng Thiền trên Ấn Ðộ được truyền sang Trung Hoa. Tại Trung Hoa Bồ Ðề Ðạt Ma được xem là Sơ Tổ, và giòng Thiền tiếp tục truyền tới Lục Tổ Huệ Năng, tiếp theo y bát ko còn được truyền xuống nữa. Nhưng khởi đầu từ Lục Tổ trở đi thì Thiền Tông siêu hưng thịnh, và đã truyền sang những nước lân bang như Cao Ly, Nhật Bản, Việt Nam.

Thiền Tông có cả thảy 33 vị Tổ, nhưng được đề cao nhất là Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma, chính vị Tổ này đã tạo cho Thiền Tông 1 sắc thái đặc biệt lúc sang Trung quốc tuyên bố rằng đây chính là:

Giáo ngoại biệt truyền Bất lập văn tự động Trực chỉ nhân tâm Kiến tánh thành Phật.

Do từ khẩu hiệu này mà Thiền Tông (trên Trung Hoa) còn được gọi là Tổ Sư Thiền, tức là Thiền xuất phát từ những Tổ Sư. Ðến đời Lục Tổ Huệ Năng thì Thiền lại chia khiến 2 phe. Nam đốn, Bắc tiệm (Tổ Huệ Năng xiển dương đốn ngộ trên phương Nam, Ngài Thần Tú chủ trương tiệm tu trên phương Bắc). Sau 1 thời kì thì chỉ còn lại Thiền phương Nam là thịnh hành hơn cả, nên Thiền Tông lại được gọi sở hữu 1 danh từ khác là Thiền Ðốn Ngộ. Chính phái Thiền này được truyền thừa từ Trung Hoa sang Việt Nam do Tổ Tỳ Ni Ða Lưu Chi, và chư Tổ sau này đều thuộc giòng Thiền này.

Chủ trương của Thiền Tông là gì? Vẫn là 4 câu kệ của Tổ Ðạt Ma: “Chẳng lập văn tự động, Truyền bên cạnh giáo lý, Chỉ thẳng tâm người, Thấy tánh thành Phật”. Chính bài kệ này đã khiến cho Thiền Tông nổi bật sở hữu tánh phương pháp kỳ dị của nó. Người bên cạnh new nhìn vào có thể lầm lẫn, tưởng Thiền là 1 pháp môn đặc biệt, tu theo ấy mau thành Phật. Nhưng thực ra bài kệ trên trường hợp đem vận dụng vào thực tế thì nó ko còn đúng hẳn sở hữu ý nghĩa của nó nữa. Xưa kia những Thiền Sư từng ngày đều thượng đường nói pháp, lời lẻ câu văn của những Ngài có thể thô tục, tầm thường, ko văn hoa như nhưng danh từ dùng trong Kinh điển, nhưng đa số đều ngụ ý giảng giải giáo lý của Phật, khiến sao có thể nói “chẳng lập văn tự động, truyền bên cạnh giáo lý” được.

Những Thiền Sư thường đánh đập, la hét, dùng đủ mọi phương tiện để cho đệ tử nhận ra ông chủ, hay tánh giác của mình, “chỉ thẳng tâm người” chỉ là 1 phương pháp nói mà thôi. Trường hợp thấy tánh thành Phật liền thì 33 vị Tổ Thiền Tông đều đã là Phật cả rồi, nên nói đúng hơn là thấy tánh thành Tổ.

Tuy vậy trường hợp so sánh sở hữu những Tông phái khác thì Thiền Tông vẫn đặc biệt hơn, sở hữu tánh phương pháp phóng khoáng tự động tại trong việc dùng phương tiện để chỉ cho người tu nhận lại tánh giác hay “bản lai diện phần”. Lúc nhận được tánh giác rồi, người tu buộc phải tiếp tục tinh tấn thực hành chánh niệm (Samma-Sati), xả trừ vọng tưởng tới ngày hoàn toàn sống sở hữu tánh giác (hằng giác) thì lúc ấy gọi là chứng ngộ. Có chứng ngộ new thoát khỏi sanh tử luân hồi, còn giác ngộ chỉ new là chánh kiến (Samma Ditthi), phần đầu trong Bát Chánh Ðạo (Ariya Magga).

Người mà nhân nghe nửa câu hoặc 1 câu ngộ đạo, hay bị 1 đạp, 1 gậy giác ngộ, thì được gọi là “truyền tâm ấn”. Những người này thường là những người lanh trí lẹ mắt, vì thế nên Thiền Tông được xem như chỉ dành cho hàng thượng căn. Nhưng hàng thượng căn thì bao giờ cũng ít, mà hạ căn thì bao giờ cũng nhiều, nên lần lần theo thời kì Tâm ấn bị thất truyền. Phần khác, sau này Tông Tịnh Ðộ được xiển dương siêu hưng thịnh, nên những ai muốn tu Thiền ko biết nương vào đâu. Trường hợp muống nương vào nhà Sư thì tâm ấn thất truyền, lấy ai cho ta thoại đầu, công án hay đánh đập đúng lúc cho ta giác ngộ. Thực ra những công án, thoại đầu, đánh đập, la hét chỉ là những phương tiện thiện xảo của những Thiền Sư tùy thuộc} bịnh cho thuốc, rút đinh nhổ chốt, quả dưa 9 1 phen xúc chạm liền rớt mà thôi. Những Ngài ko để lại phương thức tu tập nào cả, trường hợp để sẽ trái sở hữu câu “Bất lập văn tự động, Giáo ngoại biệt truyền”. Vì những Ngài cố ý ko theo 1 thứ lớp tu tập nào cả, nên có 1 số người tu theo Tiểu Thừa cho Thiền Tông là 1 quái thai của Phật giáo. Trường hợp quái thai mà đưa tới giác ngộ giải thoát thì cứng cáp cũng nên quái thai!

Ngày nay giòng Tổ Sư Thiền sắp như đã mất, trừ ra có Thầy Thanh Từ đang cố gắng hoằng dương lại. Kinh băng và sách của Thầy đã được phổ cập} phổ biến bên cạnh hải ngoại. Tuy nhiên trường hợp chỉ nghe Kinh băng hoặc đọc sách để mong chờ ngày giác ngộ thì thiệt là ko thể có. Vì Thiền là 1 pháp hành, ko buộc phải pháp học, tự động mình buộc phải chiêm nghiệm thấy rõ được sự lưu chuyển của tâm thức new mong thấy được tự động tánh.

Kinh sách Thiền Tông ít có ghi lại những phương thức tu tập, đa số chỉ ghi lại những biến cố giác ngộ của những Thiền Sư, mang trong mình nhiều tính phương pháp ly kỳ, hấp dẫn như những trường hợp giác ngộ lúc bị đánh, hét, hoặc lúc thấy hoa nở, nghe tiếng mưa rơi v.v… Lúc đọc những trang sách này, người tu Thiền thường có khuynh hướng mong cầu được giác ngộ giống như vậy.

Trường hợp đọc Kinh sách Nguyên Thủy như trong Trưởng Lão nâng cao kệ (Théragatha), ta sẽ thấy trong ấy cũng có ghi lại những trường hợp mà chư Thánh Nâng cao trong thời đức Phật đã giác ngộ. Thí dụ trường hợp của Ngài A Nan chứng quả A la Hán trong lúc đang quay mình đặt lưng xuống nghỉ, Ngài Châu lợi Bàn Ðà Già ngộ đạo trong lúc đang quét nhà, v.v… Nhưng sự việc này ít được nói tới, vì ấy chỉ là kết quả hiển nhiên của 1 sự tu tập chánh niệm hoặc Minh Sát Tuệ tới mức thành tựu.

Chân lý là chiếc gì tuyệt đối, Pháp thân thì bất khả thuyết, bất khả tư nghì, vì thế Thiền Tông chủ trương chỉ thẳng (cho người nhận ra) bổn tánh, ko dài giòng văn tự động. Càng nói lý bao nhiêu, càng đi xa Thiền bấy nhiêu. Việc ấy chỉ dành cho những học giả muốn thỏa mãn tài phân tách của mình mà thôi.

Chúng ta có chiếc tật là hay học thuộc lòng những câu kệ, chú của những Thiền Sư đắc đạo, rồi từng lúc nói tới Thiền thì đem ra lập lại, giảng nghĩa bàn luận, có biết đâu là mình đang nhai đi nhai lại cặn bã của kẻ khác. Người nào tu người ấy biết, người nào chứng người ấy hay, những câu thơ câu kệ xưa kia là của riêng những Thiền Sư, ko dính líu gì tới ta cả, ko nên si mê dại dột mà nhận của người khiến của mình. Vì nhận lầm như thế nên đa số người học Thiền đều tưởng lầm là mình phá chấp và sắp sửa thành Tổ cả rồi!

Xưa kia Tổ Ðạt Ma đem Thiền vào Trung Quốc sở hữu 1 hình thái kỳ dị chỉ nhằm phần đích giải tỏa sự chấp chặt vào văn tự động Kinh điển của 1 số người thuở ấy ưa học Phật mà ko chịu tu Phật. Ngày nay trình độ học Phật siêu kém, nên ta ko thể chấp vào Kinh điển được, nhưng ngược lại chúng ta lại đi chấp chặt vào những kinh kệ của chư Tổ, nhất là Thiền đốn ngộ. Vì nguyên nhân này, nên tôi nghĩ rằng những ai muốn truyền bá Thiền, thì phải chăng hơn là nên truyền bá Thiền của Ngài Thần Tú hơn là Thiền của Ngài Huệ Năng. Khiến như vậy có thể có lỗi sở hữu Lục Tổ, nhưng cứng cáp ko phụ ơn đức Phật. Vì đức Phật chỉ muốn khiến sao cho chúng ta thoát khỏi sanh tử luân hồi, chứ Ngài đâu có muốn chúng ta thành Tổ!

Thiền Tông đã đặt nặng và đề cao sự đốn ngộ quá, để rồi những người theo Thiền sau này quên đi con đường dẫn tới giác ngộ, nó chỉ là 1 trợ duyên cuối cùng giúp cho hành giả ngộ đạo mà thôi.

Cũng cần nhắc lại là ngộ đạo chưa buộc phải hoàn toàn giải thoát (sanh tử). Ngộ đạo chỉ là bước đầu, đồng nghĩa sở hữu kiến tánh, hay giải ngộ. Trong Kinh Pháp Hoa có nói Khai Thị Ngộ Nhập Tri Kiến Phật. Ngộ rồi buộc phải tu tiếp tới lúc nhập new thôi, lúc ấy gọi là chứng ngộ, hay hoàn toàn giải thoát. Từ lúc ngộ đạo cho tới lúc hoàn toàn giải thoát, con đường còn lại vẫn còn cam go và khó khăn, hành giả buộc phải khéo léo, kiên nhẫn đối phó sở hữu mọi sự cám dỗ, lôi kéo của sắc trần bên bên cạnh, và sự lừa bịp, lôi kéo của vọng tưởng bên trong. Ko buộc phải 1 sớm, 1 chiều new đựng bước lên đường mà đã tới đích rồi đâu.

Theo tôi nghĩ, chúng ta ko nên dùng chữ Thiền Ðốn Ngộ mà đúng hơn nên dùng chữ Tổ Sư Thiền. Vì chữ Thiền Ðốn Ngộ hay khiến cho người ta hiểu lầm là trường hợp tu theo Thiền này sẽ mau giác ngộ. Nhưng “tu nhất kiếp, ngộ nhất thời “, hay “tu vạn kiếp ngộ nhất thời” cũng có. Ðạo Phật dạy về nhân quả, có gieo nhân giác ngộ new mong gặt được quả giác ngộ. Lúc có toàn bộ “nhân và duyên” thì quả giác ngộ tự động thành. Trường hợp có người nào bảo rằng ko học mà biết, ko tu mà thành thì người ấy ko nói đạo Phật. Thí dụ trường hợp của Ngài Huyền Giác (tác giả Chứng đạo Ca) đương thời gọi Ngài là “Nhứt túc giác” (1 đêm giác ngộ). Trước lúc tới tham vấn Lục Tổ, Ngài đã tu hành giới hạnh trang nghiêm, chuyên tu Chỉ-Quán (Samatha-Vipassanà). Nhân duyên đã toàn bộ, tới lúc gặp Lục Tổ liền được ấn chứng.

B. So sánh Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông

Thiền Tông được truyền xuống từ Chư Tổ nên gọi là Tổ Sư Thiền. Còn Tứ Niệm Xứ được gọi là Thiền gì? Tứ Niệm Xứ là phương pháp hành thiền mà chính đức Phật đã vận dụng phương pháp đây trên 2531 5 và đã dạy lại cho những đệ tử, nên được gọi là Như Lai Thiền. 1 Thiền của Tổ Sư, 1 Thiền của Như Lai, vậy Thiền nào đúng, Thiền nào sai, Thiền nào cao hơn Thiền nào?

Cả 2 đều nhằm phần đích đưa hành giả tới chỗ giác ngộ giải thoát, nên đều được coi là chánh pháp cả. Còn Thiền nào cao hơn Thiền nào? Ai mà đặt ra câu hỏi này thì thiệt là… ko biết nói sao! Vì vấn đề ko trên cao hay thấp mà trên chỗ người bệnh nào thì cho thuốc ấy mà thôi. Vậy cao hay thấp thì ko, nhưng khác nhau thì có. Tuy thấy khác nhưng thực ra cũng ko thể gọi là khác được. Vì 1 bên đặt nặng về lý, còn 1 bên chỉ dạy về sự. Về lý thì Thiền Tông quả là độc nhất vô nhị vô nhị, sở hữu sự đánh đập, la hét làm người cầu đạo ngỡ ngàng, cố gắng tìm nhưng lý thuyết sâu xa trên ấy. Nhưng về sự, tức phần thực hành tu tập thì Thiền Tông vẫn nằm gọn trong Tứ Niệm Xứ. Cổ Ðức xưa có câu:

Ðốn ngộ tuy đồng Phật Ða sanh tập khí thâm Phong đình cha thượng dũng Lý hiện niệm du xâm.

Dịch nghĩa là:

Ðốn ngộ tuy đồng Phật Nhiều đời tập khí sâu Gió ngừng sóng vẫn đập Lý hiện niệm còn xâm.

Lúc đốn ngộ thì chỗ thấy ko khác chư Phật, music tập khí chất chứa từ nhiều đời, nhiều kiếp ko thể 1 lúc mà sạch hết. Cần buộc phải nổ lực buông xả vọng tưởng, nhiều ngày ngày new hết, như gió đã giới hạn mà sóng chưa lặng, buộc phải đợi thời kì từ từ nó new yên. Chân lý đã thấy rõ rồi mà vọng niệm vẫn còn xâm lấn mãi. Vì thế sau khoản thời gian giải ngộ cần buộc phải cố gắng tu hành new được chứng ngộ.

Về lý thì Thiền nói trăng, nói cuội, chỉ đây nói ấy, nhưng về sự thì ko bên cạnh việc “diệt trừ vọng tưởng”. Muốn diệt trừ vọng tưởng ko có pháp nào khác hơn bên cạnh Chánh niệm (Samma-Sati) là chi thứ 7 trong Bát Chánh đạo (Ariya-Magga).

Chánh niệm là gì? Có buộc phải là ghi nhớ 1 phương pháp chân chánh ko? Niệm luôn miệng ” Nam mô A Di Ðà Phật ” có buộc phải là chánh niệm ko. Ðầu óc luôn luôn nghĩ tới giáo lý Phật pháp có buộc phải là chánh niệm ko?

Trên phương diện hành Thiền, Chánh niệm cần được hiểu là quán niệm 1 phương pháp chân chánh, chân chánh trên đây còn có nghĩa là khách quan. Vậy chánh niệm là quán niệm, hay rõ hơn là quán sát và ghi nhận 1 phương pháp khách quan. Cần quán niệm lúc nào, lúc nào? Việc thực hành quán niệm ko thể nằm bên cạnh 4 lãnh vực (4 niệm xứ), ấy là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp.

Trở về Thiền Tông, ta thường nghe nói: gánh nước, bửa củi là Thiền, lặt rau, hái cỏ cũng là Thiền. Có người hỏi Thiền Sư Hụê Hải: “Tu Thiền dụng công thế nào?”. Thiền Sư trả lời: “Lúc đói thì ăn, lúc mệt thì ngủ!”. Người kia lại hỏi: “Ai mà chả đói thì ăn, mệt thì ngủ. Mọi mọi người đều như vậy, có gì là khác?”. Thiền Sư bảo: “Lúc ăn ta biết đang ăn, lúc ngủ ta biết đang ngủ. Còn người đời thì lúc ăn chẳng chịu ăn, đòi trăm thứ cần dùng; lúc ngủ chẳng chịu ngủ, tính toán ngàn chuyện!”. Xem ra trên đây có khác gì Niệm thân (Kàyanupassanà) của Tứ Niệm Xứ: “Lúc thở vào 1 tương đối dài, hành giả biết mình đang thở vào 1 tương đối dài…”. Trong từng cử động của thân thể: đi, đứng, nằm, ngồi Thiền Sư đều giữ chánh niệm, ko cho tâm phóng đi 1 phương pháp bừa bãi theo vọng tưởng, ấy chính là niệm thân vậy.

Những Thiền Sư có lúc đánh đau điếng hoặc xô đệ tử què chân, ấy ko buộc phải đánh thức người đệ tử trở về niệm thọ (Vedanànupassanà) là gì?

Nhà Thiền có câu: “Ko sợ niệm khởi mà chỉ sợ giác chậm” có nghĩa là ko sợ vọng niệm khởi lên, mà chỉ sợ ko tỉnh thức nhận liền ra nó. Ðó có khác gì niệm Tâm (Cittànupassanà) của Tứ Niệm Xứ? Xưa kia Tổ Huệ Khả ko chịu niệm Tâm, buộc phải chờ tới lúc gặp Tổ Ðạt Ma bảo: “đem tâm ra ta an cho”, new chịu trở về tìm tâm.

Nhân nghe tiếng mưa rơi, nhìn thấy hoa nở.v.v… mà nhận ra bổn tánh, ấy buộc phải chăng thuộc về niệm pháp (Dhammànupassanà)?

Tu Thiền cần buộc phải diệt vọng tưởng. Muốn diệt vọng tưởng buộc phải có chánh niệm, mà chánh niệm ko bên cạnh Tứ Niệm Xứ. Vậy Tứ Niệm Xứ là phép thực hành cơ bản của Thiền.

Thế còn đặc tánh Giác ngộ của Thiền Tông thì sao? Ðặc tánh giác ngộ của Thiền ko buộc phải vô duyên cớ. Vào khoảng thế kỷ thứ 5, sau khoản thời gian Kinh điển vừa được đem từ Ấn độ sang Trung Hoa, những học giả Phật dồn hết tâm lực vào công cuộc phiên dịch Kinh từ Phạn ra Hán văn. Tiếp tục mọi người đều hăng say đi tìm chân lý nơi văn tự động của Kinh điển. Dần dần họ bị như lôi kéo vào mê hồn trận của giáo lý cao siêu Ðại Thừa, để rồi quên đi những Kinh điển cơ bản nhưng giản dị và thiết thực của Tiểu Thừa. Càng đi sâu vào triết lý văn tự động của Kinh điển, họ càng hoang mang trong mình ko biết đâu là đạo, đâu là chân lý. Ðến lúc cùng đường, bí lối thì might thay đổi, Bồ đề Ðạt Ma đã xuất hiện như 1 vị cứu tinh sở hữu câu: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự động, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Và từ ấy Thiền Tông nổi danh là 1 pháp môn đốn ngộ. Ai nấy đều đi tìm Thiền Sư chỉ cho giác ngộ. Giác ngộ chỉ được thực hành chứ ko buộc phải để được mong cầu. Chỉ có những người quên và ko biết sống sở hữu hiện tại, lo đi tìm chân lý trên những gì cao xa new đi tìm giác ngộ.

Xưa kia Tổ Ðức Sơn đi đâu cũng giảng Kim Cang, Pháp Ðạt tụng làu cha ngàn bộ Pháp Hoa, mà vẫn ko ngộ đạo, buộc phải chờ tới lúc có người chỉ cho chỗ tầm thường nhất new chịu nhận ra.

Người tu theo Ðại thừa cũng vậy, chỉ lo tụng Kinh Pháp Hoa, Kim Cang, Niết Bàn, Hoa Nghiêm, v.v…. mà ko chịu đọc Kinh Pháp cú, Chuyển pháp luân, Tứ thập nhị chương, Tứ Niệm Xứ,v.v… Thiền Tông đã khéo tô điểm “giác ngộ”, để người ta tưởng rằng nó chỉ nằm trong diện tay của những Thiền Sư, rồi đua nhau đi tìm Thiền Sư chỉ cho giác ngộ, khiến như giác ngộ là 1 chiếc gì bên bên cạnh.

Hỡi những người đang đi tìm giác ngộ chân chánh, hãy giới hạn chân lại! Tại sao buộc phải đi tìm giác ngộ? Tại vì bất giác. Bất giác chánh niệm, hay là thất niệm: ăn ko biết mình đang ăn, mặc ko biết mình đang mặc, thở ko biết mình đang thở… Giác ngộ buộc phải được thực hành trong mọi giờ phút! Thiền Tông thường nói giác ngộ là nhận ra ông chủ, hay bản lai diện phần. Nhưng theo tinh thần Tứ Niệm Xứ thì giác ngộ là nhận biết hiện tại, giác ngộ tương đương sở hữu chánh niệm, vì giác ngộ ko thể có bên cạnh chánh niệm. Người đời thường ưa chữ giác ngộ hơn chánh niệm, vì họ cho rằng giác ngộ là 1 điều siêu khó, còn chánh niệm thì quá dễ. “Ăn mà biết mình đang ăn” thì ai chả biết? Ðó là chánh niệm đã bị tầm thường hóa rồi. Chỉ có những người ko biết hoặc chưa thực hành đúng đắn new coi thường chánh niệm mà thôi. Chánh niệm ko buộc phải là ý thức suông việc đang ăn của mình đâu, mà buộc phải thấy rõ, trực nghiệm đa số tiến trình của sự ăn, tức là từ lúc khởi đầu ăn, đang ăn, cho tới hết ăn, và đa số những gì xẩy ra trong lúc ăn, và còn nữa, còn nữa… Vì vậy chánh niệm buộc phải được thực hành trong từng giây phút, từng sát na, và việc ấy ko buộc phải dễ đâu, mà là 1 việc vô cùng khó khăn, đòi hỏi nhiều thời giờ và kiên nhẫn, trường hợp ko thì quý vị đã thành A La Hán hết rồi!

Tóm lại Thiền Tông và Tứ Niệm Xứ ko xung khắc nhau mà ngược lại còn bổ khuyết cho nhau. Thiền Tông chuyên về lý (mặc dầu nói “bất lập văn tự động”). Người tu Thiền tìm phương pháp cứng cáp chắn buộc phải đi qua con đường Tứ Niệm Xứ. Trong Kinh Tứ Niệm Xứ ko nói lý cao siêu, nhưng xin người tu Thiền đừng xem thường nó, vì ko buộc phải ai cũng có thể tu theo Tứ Niệm Xứ đâu, chỉ có nhưng người hiểu được “Bình thường tâm thị đạo” new chịu khó kiên nhẫn hành theo mà thôi.

5. Thiền và Tịnh độ

Ngày nay trong Phật giáo còn lại cha tông phái chính là Thiền, Mật và Tịnh Ðộ. Riêng trên Việt Nam thì chỉ có Thiền Tông và Tịnh Ðộ tông là thịnh hành hơn cả. Ðại khái thì Thiền chủ trương tự động lực, Tịnh Ðộ (có tự động lực nhưng) nương tha lực. New xem qua dường như 2 pháp môn này chống trái nhau, nhưng xét cho kỹ Thiền là trở về sở hữu bổn tánh thanh tịnh, ấy ko buộc phải là tịnh sao? Còn Niệm Phật mà ko có chánh niệm thì Tín, Hạnh, Nguyện ko tròn khiến sao vãng sanh, mà chánh niệm há chẳng buộc phải là Thiền?

Xem Thêm  Tổng hợp về bí quyết chơi Jax tốc chiến

Người ta thường có khuynh hướng cho rằng Thiền cao hơn Tịnh Ðộ. Thực ra vấn đề ko buộc phải trên cao thấp mà trên chỗ bịnh nào thuốc nấy mà thôi.

Ðức Phật xưa kia đã tận tụy suốt 45 5 nói Pháp, từ cao xuống thấp, từ thấp lên cao, tùy thuộc} căn cơ của chúng sanh mà chỉ bệnh cho thuốc. Ngài ko pr 1 pháp môn nào cả, ko đề cao Tịnh Ðộ hạ thấp Thiền, ko bảo Thiền hơn Tịnh Ðộ. Sự phân biệt cao thấp, Ðại, Tiểu là do người sau này, căn cơ ko được như đức Phật, ko có nhất thiết chủng trí, ko biết nhiều pháp môn, chuyên tu pháp môn nào thì chỉ đề xướng pháp môn ấy thôi. Người thích tu Thiền ko nên tưởng mình là thượng căn, người tu Tịnh Ðộ ko nên có mặc cảm là hạ căn. Người tu lúc lựa chọn pháp môn buộc phải dùng trí hụê sáng suốt, biết bệnh của mình hợp sở hữu phương thuốc nào. Thượng căn hay hạ trí thực ra ko có nghĩa gì cả, ấy chỉ là những khái niệm nhị nguyên do chúng ta phân biệt đặt ra mà thôi. 1 ông chưng sĩ chuyên nghiệp chữa hết bệnh đau mắt, ko thể nói sở hữu 1 người đau tim rằng: “thuốc của tôi hay nhiều, vì đã chữa khỏi nhiều người, ông nên uống vào sẽ hết bệnh”. Cũng vậy, ta ko thể nói Kinh nào hay Pháp môn nào hay hơn cả.

Tịnh Ðộ thực ra là 1 phần của Mật Tông. Theo Mật Tông hay đúng hơn là Mật thừa (Mantrayanà) còn gọi tên khác là Kim Cang thừa (Vajra-yanà), từng 1 vị Phật hay Bồ Tát đều có 1 câu thần chú tượng trưng cho bản nguyện của vị ấy. Ðức Phật Thích Ca có câu thần chú “Om muni muni maha muni svahà”, Phật A Di Ðà có “Om Amitabhà Hrih”, Quan Thế Âm Bồ Tát có “Om mani padmè hùm “, v.v… Phật A Di Ðà trên phương Tây là 1 trong 5 vị Dhyàni Buddha, và cõi Cực lạc của Ngài là 1 trong muôn ngàn cõi tịnh độ trong pháp giới.

Nhân tiện đây xin nhắc nhở nhưng ai tu Mật tông theo cổ xưa Tây Tạng tức quán tưởng những hình tướng (déités, Yidams, Dakinis…) hoặc mandala, nhu yếu bậc thầy truyền cho quản lý (Initiation, dbang). Trường hợp chỉ tu theo sách vở, hoặc học lóm thì sẽ dễ lạc đường và có thể mất trí.

Tịnh Ðộ thuộc Ðại thừa, hành giả tu niệm Phật cầu sanh về Cực Lạc, chứng được quả vị Bất thối chuyển rồi từ ấy dần dần tiến tới quả vị Phật là cứu cánh. Tuy nhiên trên phương diện thực hành và truyền bá thì Tịnh Ðộ nhấn mạnh về việc vãng sanh Cực Lạc và hay lãng quên phần đích chân chánh là cầu thành Phật độ chúng sanh.

Người tu theo Tịnh Ðộ thường cho phần đích chính của sự niệm Phật là cầu sanh Cực Lạc, ko nghĩ tới chuyện thành Phật, hoặc nghĩ từ ấy sẽ học khiến Phật sau. Niệm Phật để cầu thành Phật và muốn thành Phật buộc phải học khiến Phật. Ðến lúc xả bỏ báo thân này thì đương nhiên sẽ về Cực Lạc để tiếp tục con đường thành Phật. Vì thế người tu Tịnh Ðộ vẫn cần buộc phải học đa số pháp môn, trau dồi Giới, Ðịnh, Huệ ngay lúc còn trên Ta Bà này.

Tu Tịnh Ðộ muốn được vãng sanh nhu yếu toàn bộ Tín, Hạnh, Nguyện. Tín là lòng tin cứng cáp chắn có đức Phật A Di Ðà ớ Cực Lạc Phương Tây, và những ai chí tâm niệm danh hiệu Ngài thì sẽ được vãng sanh. Phần đông những người già sắp chết, biết ko còn nương tựa vào ai được nữa nên dễ phát lòng tin. Những người trẻ thì nghĩ mình còn sống nhiều ngày, tự tín và hy vọng tương lai tươi đẹp, nên khó tin cảnh Cực Lạc, vì thế nên Tịnh Ðộ bị xem như 1 pháp môn dành cho người già (thực oan uổng cho Tịnh Ðộ!). Hạnh: 1 lúc tin cứng cáp rồi thì hành giả buộc phải gia công ngày đêm niệm Phật ko gián đoạn, buộc phải niệm tới nhất tâm bất loạn (tức là chánh niệm). Nguyện: hành giả đem hồi hướng đa số công đức niệm Phật nguyện sanh Cực Lạc.

Ðại khái pháp môn tu Tịnh Ðộ là như vậy. Vì có siêu nhiều sách giảng về Tịnh Ðộ, đọc giả có thể tìm nghiên cứu thêm, trên đây chỉ nhằm phần đích dung hòa 2 lối tu giữa Thiền và Tịnh.

Ngày nay trên những chùa Việt Nam tu hành ra sao? Tu Thiền hay Tịnh?

Sáng sớm có 1 thời công phu khuya, gồm chú Lăng nghiêm, Ðại Bi, Thập chú. Ðây thuộc về khẩu Mật, vì chỉ tụng, ko có bắt ấn, ko quán tưởng, nên chỉ là 1 phần trong Tam Mật (thân, khẩu, ý).

Chiều thì có 1 thời Kinh Di Ðà hoặc Phổ Môn, Hồng Danh, Mông sơn. Ðây thuộc về Kinh, tạm gọi thuộc Tịnh Ðộ. Tối thì có chùa cho ngồi thiền từ 2 mươi phút tới 1 tiếng, trong số ấy thiền sinh có người thì niệm Phật, người thì loạn tưởng, người thì hôn trầm. Tạm gọi đây thuộc về Thiền.

New nhìn sơ qua ta thấy trong chùa gồm có cả cha pháp môn tu: Thiền có, Tịnh có, Mật có. Nhưng nhìn kỹ thì ta sẽ thấy chẳng có chiếc nào, vì chả có pháp môn nào được thực hành đúng đắn theo cổ xưa của nó cả.

Tạm bỏ qua Mật tông, chỉ nói về Thiền và Tịnh. Tu Tịnh Ðộ trường hợp ko hiểu lý thì Tín sẽ biến thành ỷ lại, ko chánh niệm thì Hạnh ko tròn. Ko hiểu lý, ko chánh niệm thì sẽ bê trễ lơ là, do ấy Nguyện sẽ ko thành. Vì thế những người trẻ lúc tu theo Tịnh Ðộ cần buộc phải trau dồi, học hỏi để thông hiểu lý, buộc phải giữ chánh niệm, và buộc phải phát nguyện cứu khổ chúng sinh, lập đi lập lại những lời nguyện đấy. Có thế Tịnh Ðộ sẽ bớt yếm thế và ko còn bị coi như của người già.

Tu Thiền mà chê Tịnh Ðộ, thì ấy chưa hiểu tự động tánh (vốn chơn ko mà diệu hữu). Tu Tịnh Ðộ mà bỏ Thiền, thì chưa hiểu tự động Tâm (vốn diệu hữu nhưng ko lìa chơn ko).

Người tu Thiền có thể hồi hướng công phu cầu sanh Tịnh Ðộ, trường hợp chưa hoàn toàn tự động chủ và sợ căn cơ còn yếu.

Người tu Tịnh Ðộ buộc phải tập học giữ chánh niệm để đạt được an lạc ngay trong cuộc sống hiện tại và do ấy sẽ hạn chế bớt cho Tịnh Ðộ mang trong mình tiếng dành cho ông già bà cả.

Dù theo Thiền hay Tịnh Ðộ, người tu cần buộc phải xa lánh thế tục, cố gắng tìm nơi rừng núi, thôn quê, trau dồi đạo hạnh. Xưa kia những Thiền Sư, sau khoản thời gian ngộ đạo, đều tìm nơi trên ẩn tới lúc tâm đúc thành 1 khối new ra độ đời. Chư Tổ Tịnh Ðộ như Ngài Huệ Viễn, Thiện Ðạo, Vĩnh Minh, ko những xiển dương dạy chúng niệm Phật, mà chính mình cũng nhập thất niệm Phật khiến gương. Ngày nay người tu như chúng ta, đạo lực, tâm lực, có bằng được 1 phần trăm, 1 phần ngàn của Cổ Ðức ko, mà lại hay đi phê bình, chỉ trích người tu ẩn dật, cho họ là ích kỷ, căn tánh Nhị Thừa?

6. Tứ Niệm Xứ và Bồ tát đạo.

Bồ Tát, nói cho đủ là Bồ Ðề Tát Ðỏa dịch âm từ chữ Bodhisattva (Sanskrit) hay Bodhisatta (Pali). Bodhi là Giác, Sattva là Hữu tình. Bồ Tát là những người phát tâm, nguyện đạt cho được đạo quả Chánh đẳng Chánh giác, tức là Phật. Phát nguyện như vậy có quá đáng ko? Có kiêu ngạo quá ko? Ko! Chỉ vì Bồ Tát có tâm Ðại từ, Ðại bi, muốn cứu độ chúng sanh thoát khỏi chiếc khổ sanh tử luân hồi nên new phát nguyện thành Phật. Xưa kia, đức Phật Thích Ca vì nguyên nhân nào lìa bỏ cung thành đi tu? Cần chăng vì thấy cảnh sanh, già, bệnh, chết của chúng sanh mà quyết ra đi tìm giải thoát cho mình và cho người?

Bồ Tát là người cầu thành Phật? Hay chỉ là người có tâm Ðại từ Ðại bi thôi? Cầu thành Phật mà ko có tâm Từ bi thì ko thể có! Ðại từ, Ðại bi mà ko có Trí tuệ thì cũng ko thể cứu độ chúng sanh. Cứu khổ trong đạo Phật cần được hiểu là cứu khổ sanh tử luân hồi, chứ ko buộc phải khổ vật chất, hay tinh thần. Muốn cứu khổ chúng sanh 1 phương pháp trọn vẹn và rốt ráo nhu yếu trí tụê toàn giác.

Vậy Bồ Tát là những người phát Bồ Ðề Tâm (Bodhicitta), tức tâm nguyện thành Phật để cứu độ chúng sanh 1 phương pháp toàn vẹn và rốt ráo. Ðại Từ Bi chỉ là động lực trước tiên liên quan hành giả tiến bước trên Bồ Tát Ðạo, và phần tiêu cuối cùng của Bồ Tát Ðạo là quả vị Phật. Vì trong quả vị Phật, có toàn bộ những đức tánh Ðại Từ, Ðại Bi, Ðại Hỷ, Ðại Xả, Ðại Hùng, Ðại Lực, Ðại Trí, Ðại Huệ… để cứu độ chúng sanh.

1 lúc phát Bồ Ðề Tâm 1 phương pháp vững cứng cáp rồi. Bồ Tát có thể lựa chọn đa số pháp môn nào tùy thuộc} theo căn cơ, sở thích và tâm nguyện của mình. Bồ Tát ko cần} buộc phải tạo nhiều chùa lớn, tượng lớn, ko cần} buộc phải đi khắp nơi thuyết pháp, giảng đạo. Ngược lại cũng ko cần} buộc phải vào rừng núi tu ẩn dật cho tới ngày thành Phật new ra độ đời (trường hợp của những Ðạo Sư Tây Tạng như Milarépa xưa kia, hoặc điển hình tiên tiến là Kalou Rimpoché). Từ lúc new phát tâm cho tới lúc thành Phật, Bồ Tát vẫn tiếp tục phát triển thành tâm Bồ Ðề, tiếp tục cứu độ và khiến lợi ích cho chúng sanh tùy thuộc} theo căn cơ, khả năng của mình.

Bồ Tát ko cần} buộc phải là thượng căn, Thanh Văn ko hẳn là hạ trí. Bồ Tát chỉ khác Thanh Văn nơi Bồ Ðề Tâm thôi. Mọi pháp môn Ðức Phật để lại, ko có pháp nào dành riêng cho Bồ Tát hay Thanh Văn cả. Thí dụ như Tịnh Ðộ được coi là 1 pháp môn thuộc Ðại Thừa. Nhưng trường hợp người niệm Phật cầu về Cực Lạc sở hữu tâm niệm giải thoát cho chính mình khỏi chiếc khổ Ta Bà, thì người này đang biến Tịnh Ðộ thành Tiểu Thừa vậy.

Lúc nói về cha Thừa (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát), người ta thường nói như vầy: Thanh Văn tu theo Tứ Ðế, Duyên Giác tu theo Thập nhị nhân duyên, và Bồ Tát tu theo Lục Ðộ. Nói như vậy ko đúng. Tứ Ðế là 1 chân lý, trong ấy có Ðạo Ðế, Ðạo Ðế là con đường đưa tới Niết Bàn. Ðạo Ðế tức là Ðạo Phật. Ðạo Ðế ko buộc phải chỉ có Bát Chánh Ðạo, hoặc 37 phẩm trợ đạo thôi, mà đa số 84,000 pháp môn đều được xem là Ðạo Ðế. Do ấy Thập nhị nhân duyên, và Lục Ðộ cũng thuộc Ðạo Ðế. Vậy pháp tu của Duyên Giác hay Bồ Tát cũng ko nằm bên cạnh Tứ Ðế.

Trong 84,000 pháp môn của Ðức Phật để lại chỉ có 1 mùi vị vị, ấy là vị giải thoát. Nhưng chúng ta lại có thói quen hay chia phe, xếp hạng: pháp này là Tiểu Thừa, pháp kia Ðại Thừa. Trường hợp tu theo Ðại Thừa mà giảng Tứ Ðế thì ko hay, buộc phải giảng Pháp Hoa, Kim Cang new đúng. Vì sự phân chia vô lý này và hiểu lầm danh nghĩa Bồ Tát nên người tu theo Ðại Thừa thường hay thích thọ “Bồ Tát giới” và coi thường (trường hợp ko muốn nói là khinh chê) giáo lý Tiểu Thừa.

Thọ “Bồ Tát giới” để khiến gì? Có buộc phải để có quyền khai chế những giới luật cơ bản (Pàtimokkha) ko? Ðể thoát ra khỏi nếp sống gò bó, đơn giản của đời tu sĩ ẩn dật, tự động ý nghèo nàn ko?

Thọ Bồ Tát giới rồi có cần} buộc phải lao đầu vào những nơi chợ búa, thành thị mà mở nhiều chùa, thuyết pháp thâu phục đệ tử ko?

Theo Phật giáo, có cha hạng Bồ Tát là: Trí Tuệ Bồ Tát (Pannadhika), Tín Ðức Bồ Tát (Saddhàdhika) và Tinh Tấn Bồ Tát (Viriyàdhika).

Trí Tuệ Bồ Tát chú trọng phát triển thành trí tuệ và thực hành Thiền Ðịnh nhiều hơn là nhiệt thành sở hữu những hình thức lễ bái cúng dường thiết kế. Những ngài luôn luôn đi theo sự chỉ dẫn của lý trí và ko chấp thuận điều gì 1 phương pháp mù quáng. Ko tự động bó tay quy hàng cho 1 lý thuyết nào, cũng ko khiến nô lệ cho 1 quyển sách, 1 bộ Kinh, hay 1 cá nhân nào. Trí Tụê Bồ Tát thích trầm tĩnh yên lặng để trau dồi thiền định. Từ nơi vắng vẻ tịch mịch đấy, Ngài rải những tư tưởng an lành, tuy trầm lặng nhưng hùng dũng, bủa khắp thế gian, để đem lại sự hổ trợ tinh thần cho nhân loại đau khổ.

Tín Ðức Bồ Tát đặt trọn niềm tin nơi hiệu lực của tâm thành. Saddhà hay niềm tin chân thành là đặc điểm chánh yếu của Ngài. Cùng sở hữu Saddhà (niềm tin nơi Tam Bảo) như người bạn đồng hành trung tín, Ngài thành tựu phần tiêu. Mọi những hình thức cụ thể lễ bái, thờ phượng là sở trường của Tín Ðức Bồ Tát. Tượng Phật là 1 nguồn gợi cảm quan yếu đối sở hữu Ngài.

Tinh Tấn Bồ Tát thì luôn luôn tìm thời cơ để dùng cho kẻ khác. Chẳng có gì khiến cho vị Tinh Tấn Bồ Tát hoan hỉ bằng hăng hái dùng cho. Ðối sở hữu những Ngài, “khiến việc là sung sướng, và sung sướng là khiến việc”. Ko hăng hái hoạt động dùng cho thì những Ngài ko có sung sướng.

Theo Kinh sách thì con đường của bậc Trí Tuệ Bồ Tát ngắn nhứt, Tín Ðức Bồ Tát buộc phải trải qua 1 thời kì dài hơn, và Tinh Tấn Bồ Tát còn dài hơn nữa.

Tứ Niệm Xứ là 1 phương pháp hành thiền dẫn tới trí tuệ giải thoát, tự động tánh nó ko buộc phải Thanh Văn hay Bồ Tát, tuy nhiên trường hợp buộc phải so sánh và xếp loại sở hữu Bồ tát đạo, thì Tứ Niệm Xứ là 1 trong những con đường đi của Trí Tuệ Bồ Tát.

Trường hợp hành giả theo Ðại Thừa có Tâm địa Bồ Tát, thì đồng thời sở hữu việc tu tập Tứ Niệm Xứ (tự động thanh lọc bản tâm), hành giả buộc phải thường tự động nhắc nhở, phát nguyện và noi theo những gương Ðại Bi của Quan Âm, Ðại Trí của Văn Thù, Ðại Hạnh của Phổ Hiền (nuôi dưỡng chí nguyện độ tha).

7. Phương pháp thực hành

A. Ðiều kiện ban đầu

Như chúng ta đã thấy qua ớ những phần trước, phương pháp hành thiền này trông siêu tầm thường, chẳng có gì là cao siêu, nên nhiều người cho nó là thấp kém, vô ích và ko đưa tới đâu. Vì vậy ko buộc phải ai cũng thực tập dễ dàng được, mà buộc phải tùy thuộc} nhân duyên và điều kiện:

1/. Ðiều kiện ban đầu là buộc phải ý thức được chân lý ko thể có bên cạnh hiện tại, bên cạnh những gì siêu tầm thường. Dù có tụng 3, 000 bộ Pháp Hoa mà ko biết trớ về nhìn hiện tại thì việc đâu vẫn còn ấy thôi.

2/. Tin tưởng cứng cáp chắn pháp hành thiền này sẽ đưa tới giác ngộ giải thoát (lẽ dĩ nhiên trước ấy hành giả buộc phải suy nghĩ thực chính chắn).

3/. Cần phát nguyện mạnh mẽ. Ko cần phát nhưng lời nguyện văn hoa, dài giòng như trong những thời Kinh, chỉ cần nguyện 2 câu sau: “Nguyện đời đời kiếp kiếp ko xa lìa Tam Bảo. Nguyện mau giải thoát cứu độ chúng sanh”.

4/. Cần cố gắng tạo cho mình 1 bối cảnh thuận duyên. Trường hợp là tại gia cư sĩ thì nên theo học những khóa Thiền Minh Sát Tuệ trong dịp nghỉ hè. Trường hợp là xuất gia thì buộc phải thực sự xa lìa thế tục, những việc ứng phú, khiến đám, cầu an, cầu siêu, v.v…, dù có ai bảo mình căn cơ Nhị Thừa, ko có tâm độ đời cũng mặc họ, vì họ đâu có tu giùm mình đâu mà buộc phải sợ. Trường hợp ko thế, suốt ngày lăng xăng việc này, việc nọ, tới tối có ngồi thiền đi nữa cũng chỉ khiến mồi cho hôn trầm, loạn tưởng mà thôi.

5/. Tinh tấn và kiên nhẫn. Hành Thiền này siêu cần sự trợ duyên ban đầu như nhắc nhở, giảng giải của thiện tri thức, là những người đã thực hành và đã trải qua rồi. Trường hợp chỉ đọc sơ qua sách vở rồi thực hành theo sẽ mau chán nản vì ko thấy được sự tiến bộ.

B. Thực hành

Về phần thực tập, hành giả có thể y theo như nguyên văn của Kinh Tứ Niệm Xứ đã chỉ dạy. Nhưng sợ có nhiều người thấy văn tự động trong Kinh quá giản dị mà xem thường hoặc ko biết phương pháp vận dụng vào đời sống hiện tại, nên trên đây tôi tạm đưa ra vài phương pháp thức giúp cho hành giả trong bước đầu.

Cần nhớ là trong đa số 4 lãnh vực quán niệm (thân, thọ, tâm, pháp) hành giả buộc phải lấy chánh niệm (Sammà Sati) khiến đầu, và chỉ giữ chánh niệm mà thôi, có nghĩa là giác tỉnh xem và ghi nhận 1 phương pháp khách quan. Lúc khởi đầu thực hành, hành giả sẽ thấy sự xâm chiếm mạnh mẽ của thất niệm, hôn trầm (trạng thái mơ mơ màng màng) và loạn tưởng (những ý nghĩ khởi lên ào ào, liên tục lôi kéo ta theo).

Khởi đầu sự thực tập, hành giả nên tìm tới} 1 nơi vắng vẻ bên cạnh trời, trong rừng, dưới 1 cội cây, hay đa số những nơi nào yên tĩnh xa tiếng náo động ồn ào. Ngồi xuống theo tư thế bán già (ko cần} buộc phải kiết già) rồi khởi đầu quán niệm.

1/ Niệm Thân (Kàyànupassanà) – Hành giả có thể khởi đầu bằng phương pháp chú niệm vào tương đối thở vô-ra (ànàpànasati). Trong Kinh An Ban Thủ Ý (Anàpànasati Sutta) có dạy 16 phương pháp quán niệm tương đối thở. Người nào muốn biết rõ chi tiết có thể tìm đọc Kinh Quán Niệm Tương đối Thở do Thầy Nhất Hạnh đã dịch và chú giải. Riêng trên đây chỉ đưa ra những phương pháp thức siêu giản dị (simplifié) ko nhất thiết buộc phải y theo Kinh.

Hành giả khởi đầu hít vào cha tương đối thực dài và thở ra thực mạnh như để tống khứ ra bên cạnh mọi uế trược. Tiếp tục hành giả hô hấp 1 phương pháp tự động nhiên, nhẹ nhàng, ko nên ráng kèm tương đối thở và khiến cho nó buộc phải như thế nào. Chỉ để cho luồng tương đối thở thong thả trôi ra rồi thong thả trôi vào dưới ánh sáng của tâm hoàn toàn giác tỉnh.

– Lúc hít vào 1 tương đối dài, hành giả niệm thầm trong đầu: ” Híííít “. Chữ Hít buộc phải được kéo dài theo tương đối thở vào, có nghĩa là trong suốt thời kì hít vào.

– Lúc thở ra, hành giả niệm thầm: ” Thởởởởở “. Chữ Thở buộc phải được kéo dài trong suốt thời kì thở ra.

Cứ thế hành giả hít thở trong chánh niệm. Trong suốt thời kì ngồi thiền, ko có 1 tương đối thở “vô-ra” nào mà hành giả quên niệm. Trường hợp trong lúc hít thở như vậy, chợt có 1 ý nghĩ nào xuất hiện thì hành giả buộc phải nhận biết liền rồi tức khắc trở về sự chú niệm tương đối thở “vô-ra”.

Ban đầu hành giả có thể ngồi khoảng mười lăm phút, tới lúc thuần thục buộc phải nâng cao dần lên cho tới ít nhất là 1 tiếng đồng hồ. Trong bước đầu khởi sự hành thiền, cứng cáp chắn hành giả sẽ cảm thấy chán nản, bực bội, thân tâm bị gò bó. Vì thường ngày thân của ta hết khiến việc này tới việc nọ, lăng xăng đủ thứ; Tâm của ta thì chưa nghĩ xong chuyện này đã nghĩ tới chuyện kia tựa hồ con khỉ chuyền cành, con ngựa đứt cương (tâm viên, ý mã). Ko buộc phải chỉ có trên kiếp này thôi, mà nó đã như vậy từ vô thỉ kiếp trước rồi, trên thực tế} ta bắt thân ngồi lặng 1 chổ, bắt tâm chăm chú vào tương đối thở, khiến sao hạn chế khỏi sự khó chịu dày vò. Vì vậy hành thiền buộc phải tinh tấn và kiên nhẫn new đi tới đích, buộc phải chịu cực nhọc khó khăn nhiều new thành công, ko buộc phải 1 sớm 1 chiều new tu mà đã thành Tổ Sư liền được.

Sau thời điểm hành giả thuần thục sở hữu pháp quán niệm tương đối thở vô-ra trên trên, thời kì ngồi từ 1 hay 2 tiếng trở lên, thì hành giả khởi đầu thực hành sang pháp “phồng xẹp” (của bụng), sẽ thấy sự phồng lên xẹp xuống của nó. Ban đầu, trường hợp hành giả ko thấy được sự “phồng-xẹp” này, thì có thể để 1 hay cả 2 bàn tay lên bụng để nhận ra rõ ràng hơn. Lúc cảm thấy rõ ràng (chứ ko buộc phải tưởng tượng) được sự phồng xẹp rồi, hành giả khởi đầu xem và ghi nhận nó.

– Lúc bụng phồng lên, hành giả niệm thầm: “bụng phồng” hay “phồồồồng”, chữ phồng buộc phải được kéo dài trong suốt lúc bụng phồng lên.

– Lúc bụng xẹp xuống, hành giả niệm: “bụng xẹp” hay “xeeeẹp”. Chữ xẹp buộc phải được kéo dài trong suốt thời kì bụng xẹp xuống.

Vì sao trên đây lại có nhưng chữ kéo dài như: “Hiiiít”, “Thơơởở”, “Phôôôồng”, “Xeeeẹp”? Vì sở hữu người sơ sơ new tu tập, “ý thức suông” chưa buộc phải hoàn toàn chánh niệm. Lúc hít vào mà hành giả chỉ ý thức “tôi đang hít vào” hay chỉ niệm 1 chữ “Hít” thì ngay lúc ấy hành giả có chánh niệm, nhưng trong sát na sau hay giây phút kế tiếp hành giả có thể mất chánh niệm dễ dàng, nên thay đổi vì buộc phải niệm liên tục “Hít, Hít, Hít…” thì chỉ niệm 1 chữ nhưng kéo dài ra: “Hiiiít”.

Cứ thế hành giả chú tâm xem, theo dõi và ghi nhận sự phồng lên xẹp xuống của bụng trong suốt thời kì ngồi thiền. Ko có 1 chiếc “phồng-xẹp” nào mà hành giả quên ghi nhận.

Hành giả cố gắng thực hành và nâng cao lên thời kì ngồi thiền. Ít nhất buộc phải ngồi liên tục 2 giờ đồng hồ trở lên, hành giả new thấy được những gì thay đổi đổi và tiến triển. Và lúc thấy được những gì thay đổi đổi, tiến triển ấy thì hành giả new cảm thấy hứng thú trong việc thiền tập. Vì buộc phải tinh tấn và kiên nhẫn nên ít có người thực hành pháp này. Ngược lại có siêu nhiều người tu theo Thiền ngoại đạo, vì được pr new tu đã xuất hồn, hoặc có thần thông liền! Người tu chân chính cần buộc phải biết rằng từ đời vô thỉ kiếp tới giờ, ta đã bị vô minh, tà kiến, chấp trước bao phủ dầy đặc, khiến sao mà trong phút chốc có thể gột rửa cho hoàn toàn được. Còn những việc như xuất hồn, thần thông đều là những ma chướng, ngoại đạo, ta đã tích lũy chúng từ nhiều kiếp, nên nay new khởi vọng cầu liền có 1 phương pháp dễ dàng. Ðó là nguyên nhân tại sao người tu theo chánh pháp thì ít, mà tu theo tà đạo lại nhiều.

2/ Niệm Thọ (Vedanànupassanà) – Lúc hành giả ngồi nhiều ngày sẽ có những cảm giác phát sanh như mỏi mệt, đau nhức, ngứa ngáy,v.v… Lúc ấy hành giả hãy khiến như sau:

Ðang theo dõi sự “phồng xẹp”, bỗng nhiên hành giả cảm thấy đau nhức nơi chân. Hành giả liền niệm: “có 1 cảm giác đau nhức đang phát sanh (nơi chân)”, hoặc hành giả có thể niệm 1 phương pháp vắn tắt: “có sự đau”. Niệm như vậy cũng đủ để cho hành giả ghi nhận 1 phương pháp khách quan cảm giác đau đang có nơi chân. Hành giả tuyệt đối ko được niệm: “Tôi đang đau hay chân tôi đau”. Sau thời điểm niệm như vậy xong, hành giả tức thì trở về sự “phồng-xẹp” của bụng. Mọi những cảm giác đều trải qua tiến trình: phát sanh, nâng cao trưởng, suy yếu, tan biến, chỉ có nhiều ngày hay mau mà thôi. Sau 1 thời kì, cảm giác ấy bỗng biến mất, thì hành giả niệm: “cảm giác đau đã biến mất” hoặc “chiếc đau đã hết”. Trường hợp cảm giác đau ko hết mà lại nâng cao thêm thì hành giả niệm: “cảm giác đau đang nâng cao”, rồi tiếp theo liền trở lại công việc chính là quán niệm sự “phồng xẹp”. Trường hợp chiếc đau nâng cao lên quá mức chịu đựng thì hành giả có thể lấy tay gỡ chân ra, hay sửa đổi tư thế, nhưng buộc phải khiến thực chậm, giữ chánh niệm như sau:

– Trước hết lúc muốn lấy tay gỡ chân ra niệm: muốn, muốn, muốn.

– Lúc nhấc tay lên niệm: nhấc, nhấc, nhấc.

– Lúc tay đụng chân niệm: đụng, đụng, đụng.

– Lúc tay nắm chân gỡ ra niệm: gỡ, gỡ, gỡ.

– Lúc gỡ ra xong, rút tay về niệm: rút, rút, rút.

– Lúc rút tay về xong, để lại chỗ cũ niệm: để, để, để.

Trên đây chỉ là 1 sơ đồ giản dị, giúp cho người new tập giữ chánh niệm, chứ thực ra từ lúc muốn nhấc tay, rồi gỡ chân, cho tới lúc kéo tay trở về chỗ cũ, có siêu nhiều cử động khác buộc phải niệm. Trong lúc lấy tay gỡ chân ra hành giả buộc phải khiến “thực chậm”, vì thế nên từng cử động buộc phải được niệm ít nhất cha lần, giúp cho hành giả giữ được chánh niệm. Lúc thuần thục rồi thì hành giả ko cần niệm như vậy nữa mà chỉ cần giác tỉnh quán sát từng cử động trong từng sát na, muốn được vậy đương nhiên những động tác buộc phải được khiến “siêu, siêu” chậm.

3/ Niệm Tâm (Cittànupassanà) – Niệm Tâm là 1 việc siêu quan yếu trong Tứ Niệm Xứ. Trong Thiền Ðốn Ngộ có nói “Kiến tánh khởi tu” hay “Ðốn ngộ tiệm tu”, tu trên đây là diệt trừ vọng tưởng. Niệm Tâm chính là 1 phương pháp duy nhất để diệt trừ vọng tưởng. Niệm Tâm là xem ghi nhận 1 phương pháp khách quan những hoạt động của Tâm. Hoạt động của Tâm là những tư tưởng hay ý nghĩ chợt khởi chợt biến.

Lúc đang theo dõi sự “phồng xẹp” của bụng bỗng nhiên có 1 ý nghĩ dù thiện hay ác khởi lên trong tâm, hành giả liền ghi nhận (niệm) nó: “có 1 ý nghĩ (đang phát sanh)”. Niệm như vậy đủ để ý nghĩ ấy tan biến, và hành giả buộc phải tức thì trở về sở hữu sự “phồng xẹp”, ko cần suy tư xem ấy là phải chăng hay xấu. Trường hợp tiếp theo ý nghĩ ấy trở lại, hoặc có 1 ý nghĩ khác thì hành giả cũng lại niệm: “có 1 ý nghĩ”. Niệm 1 câu ngắn gọn như vậy đủ khiến cho hành giả giác tỉnh và ko chạy theo vọng tưởng. Trường hợp này giống như Thiền Sư Nhan từng ngày thường ngồi trên tảng đá, nhiều ngày nhiều ngày tự động gọi: “ông chủ”. Tự động đáp: “Dạ”. Tự động nhắc: “Tỉnh tỉnh chớ để người lừa”.

Ban đầu hành giả có thể bị ý nghĩ đưa đi xa, rồi tiếp theo new sực tỉnh, thì lúc ấy niệm: “Ðó là 1 ý nghĩ”. Khỏi cần buộc phải niệm “ý nghĩ đã diệt”, vì lúc ta niệm “ấy là 1 ý nghĩ” thì ngay lúc ấy nó đã diệt mất rồi.

Thực tập như vậy, nhiều ngày ngày hành giả sẽ ko còn bị ý tưởng đem đi quá xa nữa mà sẽ nhận ra chúng lúc chúng vừa phát sanh.

Bên cạnh giờ ngồi thiền, trong đời sống hằng ngày, trường hợp có những ý nghĩ phải chăng khởi lên trong đầu hành giả đừng mừng cho là ta phải chăng, mà buộc phải nhanh trí nhận ra ấy là Tâm khởi 1 ý nghĩ phải chăng. Lúc có 1 ý nghĩ xấu phát sanh trong đầu, đừng nghĩ là ta xấu rồi ăn năn, bực bội, mà buộc phải nhanh trí nhận ra ấy là Tâm khởi 1 ý nghĩ xấu, xong rồi thản nhiên tiếp tục giữ chánh niệm.

4/ Niệm Pháp (Dhammànupassanà) – Trong Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna Sutta), trong phần Niệm Pháp có đưa ra 5 đề phần quán niệm, nhưng trên đây tôi chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể vận dụng vào sự thực tập.

– Ðang ngồi thiền, bỗng bên bên cạnh có tiếng động như tiếng xe tương đối, thì lúc ấy hành giả niệm: “nghe, nghe, nghe” (ấy là nương theo nhĩ căn), hoặc niệm “có tiếng động” (ấy là nương theo thanh trần). Sau thời điểm niệm như vậy xong, hành giả buộc phải liền trở về sự “phồng xẹp” của bụng.

– Lúc cảm thấy buồn ngủ, hành giả niệm: “có sự buồn ngủ đang phát sanh” hoặc niệm vắn tắt “có sự buồn ngủ”. Tuyệt đối ko được niệm “Tôi đang buồn ngủ”.

Trên đây chỉ là gợi ý cho hành giả tu tập ban đầu. Về phần niệm pháp này khá phức tạp, vì chữ Pháp (Dhamma) có thể chỉ đa số nhưng sự vật trên cõi đời này, muốn nói dễ hiểu hơn là những đối tượng của tâm thức đều gọi là pháp. Ngay cả cha phần niệm Thân, niệm Thọ, niệm Tâm cũng có thể được xem thuộc niệm Pháp.

Xem Thêm  Phương pháp sửa 99% lỗi "Ko thể truy cập trang net này" trên Chrome

Người hành giả khôn ngoan, khéo léo, sẽ từ những thí dụ trên tự động sáng tạo ra những phương thức vận dụng chánh niệm vào đa số sự việc trong ngày.

Sau đây là 1 thí dụ khác giúp cho hành giả giữ chánh niệm trong lúc ăn. Hành giả buộc phải cử động 1 phương pháp chậm chạp và để ý ghi nhận và niệm trong đầu đa số những chi tiết về hành động đang diễn tiến:

– Lúc đưa mắt nhìn đồ ăn, niệm: “nhìn, đang nhìn”.

– Lúc đưa tay gắp đồ ăn, niệm: “đưa, đang đưa tay”.

– Lúc tay gắp trúng đồ ăn, niệm: “gắp”.

– Lúc đem đồ ăn lên miệng, niệm “đem, đang đem”.

– Lúc cúi đầu xuống sắp đồ ăn, niệm: “cúi, đang cúi”.

– Lúc há miệng ra, niệm: “há, đang há miệng”.

– Lúc để đồ ăn vào miệng, niệm: “để, đang để”.

– Rút đũa ra, ngậm miệng lại, niệm: “ngậm, đang ngậm”.

– Rút tay về để lại trên bàn, niệm: “rút, đang rút tay”.

– Lúc tay đụng xuống bàn, niệm: “đụng”.

– Khởi đầu ngẩng cổ lên lại ngay thẳng, niệm: “ngẩng, đang ngẩng”.

– Lúc nhai đồ ăn, niệm: “nhai, nhai, nhai…” (niệm cao nhất} trong lúc nhai).

– Lúc nuốt đồ ăn, niệm: “nuốt”.

Sau thời điểm đọc những hàng trên, đọc giả có thể buồn cười, cho rằng ấy là 1 việc khiến “kỳ cục”, ăn thì cứ việc ăn tội gì buộc phải để ý khiến chậm chạp mất thì giờ và buộc phải niệm tới niệm lui. Trong số chúng ta đây, có siêu nhiều người ăn mà ko biết mình đang ăn. Vì trong bữa ăn, miệng trò chuyện, mắt nhìn “ti vi”, đầu óc nghĩ chuyện này, chuyện nọ, tay gắp đồ ăn mà mắt chẳng nhìn, rồi bỏ vào miệng nhai như 1 chiếc máy. Mọi những hành động đều “vô ý thức”, được khiến như 1 chiếc máy, và ta cho ấy là 1 chiếc gì siêu tự động nhiên. Chính chiếc siêu tự động nhiên này là nghiệp dẫn dắt ta ấy. Những người nào có thiện chí và ý thức được là từ xưa tới nay mình đã khiến ko biết bao nhiêu hành động “vô ý thức”, thì hãy khởi đầu từ trên thực tế} trở về khiến chủ lại đa số những hành động cũng như ý nghĩ của mình, hãy tập sống giác tỉnh như đức Phật.

Ban đầu thực tập chánh niệm, hành giả sẽ nhận ra có siêu nhiều động tác bị quên niệm, nhưng sở hữu sự kiên nhẫn và tinh tấn, dần dần những động tác bị quên niệm ấy sẽ bớt lần.

Trong cuộc sống thường ngày, lúc lục căn tiếp xúc sở hữu lục trần, hành giả buộc phải tập niệm:

– Lúc mắt thấy 1 vật hay hình dáng gì, hành giả ko cần biết nó đẹp hay xấu, chỉ cần niệm: “thấy, thấy, thấy”.

– Lúc có 1 âm thanh gì lọt vào tai, ko cần biết nó hay hay dở, dễ chịu hay khó chịu, chỉ cần niệm: “nghe, nghe, nghe”.

Thời gian dài nhiều ngày hành giả có thể nhắc nhở mình bằng phương pháp tự động hỏi:

– Thân trên thực tế} đang khiến gì, trên trong tư thế nào?

– Có cảm giác gì ko?

– Tâm đang nghĩ gì?

– Có nghe thấy gì ko?

Cứ như vậy, trong lúc ngồi cũng như lúc đi, đứng, tiếp xúc, hành giả buộc phải luôn luôn nhớ niệm. Ðó gọi là chánh niệm.

Vì thế, hành thiền này ko cố định trên ngồi mà trong đa số những thời khác, đi, đứng, nằm, hành giả đều có thể tu tập được.

Những khó khăn ban đầu:

– Chân sẽ bị đau nhức như có ai lấy dao chặt chân mình, như xương sắp gẫy lìa v.v…

– Cảm giác khó chịu: như bọ hay kiến khiến ngứa ngáy…

– Ngồi nhiều ngày mệt mỏi, buồn ngủ, ngủ gục…

– Vọng tưởng, ý nghĩ khởi lên tới tấp, ko ngừng.

Còn nhiều những hiện tượng khác nữa, ấy là tùy thuộc} theo dòng nghiệp của từng người, ko thể tả hết được. Tuy nhiên hành giả chỉ cần nhớ giữ chánh niệm, theo dõi và ghi nhận thôi. Mọi những gì tới thì sẽ buộc phải đi, ko sợ hãi, cũng ko vui mừng. Sau 1 thời kì cố gắng, hành giả sẽ vượt qua mọi trở ngại trên.

Những điều nên hạn chế:

– Bỏ qua ko suy nghĩ tới Bản lai diện phần, tánh giác, hay những lý Thiền…, ấy chỉ là những danh từ gắng gượng diễn tả những gì ko thể diễn tả được. Những gì bất khả tư nghì mà cứ được đem ra bàn luận, giảng giải thì nó ko thực là bất khả tư nghì, và chỉ gây thêm những thành kiến sai lầm về nó.

– Sự mong cầu. Hành Thiền này chẳng có gì để mong cầu cả, mà chỉ ghi nhận 1 phương pháp khách quan đa số những gì xẩy tới, ko bám víu mà cũng ko xua đuổi. “Gặp Phật biết Phật, gặp Ma biết Ma”, chỉ cần biết và ghi nhận, rồi tiếp theo liền trở về sở hữu hiện tại. Ko cần buộc phải quá hung bạo như Thiền Tông “gặp Phật thịt Phật, gặp Ma thịt Ma”.

– Vì ko có sự mong cầu, bám víu hay xua đuổi nên người hành thiền này ko thể điên được, vì lúc nào cũng khiến chủ được mình.

– Giảm thiểu những cuộc đàm luận ko ích lợi. Xưa kia đức Phật có dạy: “Này những Tỳ Khưu, lúc gặp nhau, những ngươi có 2 việc nên khiến: 1 là nói về Phật Pháp, 2 là giữ ‘sự lặng lặng’…”. Ngay cả về sự hành Thiền này cũng vậy, có ai hỏi new nói, ko hỏi thì thôi.

Những điều cần biết:

Trong lúc tọa thiền, trường hợp có những trở ngại về phần thể xác (sắc), hành giả có thể nhận biết dễ dàng, nhưng về phần tâm thức (danh) thì hành giả kỹ càng để ý những điều sau:

– Lúc có những ý nghĩ khởi lên tới tấp, hành giả buộc phải giác tỉnh nhận diện ra liền, trường hợp ko thế thì hành giả có thể trở nên khổ sở, khó chịu về chúng.

– Có nhiều hành giả cố gắng bắt tâm ngưng suy nghĩ, để đầu trống rỗng, sau 1 thời kì sẽ rơi vào 2 trạng thái hôn trầm.

( * ngủ gục hay ngủ ngồi, thân tuy còn ngồi ấy mà chẳng khác gì người ngủ trên giường.

* mơ mơ màng màng, ko tỉnh hẳn, cũng ko ngủ hẳn, thân thì ko còn cảm giác, tâm thì ko khởi ý nghĩ, như ngưng hoạt động, cùng lúc hành giả cũng ko còn niệm, ko còn ý thức được mình đang khiến gì, quên niệm thân, niệm tương đối thở, niệm ” phồng xẹp “, niệm tâm….. Trường hợp hành giả nào mà trụ trên trạng thái này nhiều ngày thì chỉ mất thì giờ ngồi thiền, ko lợi ích gì cả, vì trí huệ ko phát sanh, cùng lúc tâm ngưng khiến việc, có thể khiến nhân đời sau sanh ra khiến súc sanh…)

– Có hành giả sau 1 thời kì tu tập quán niệm tương đối thở, dần đà thân tâm trở nên yên tịnh, rồi cảm thấy an lạc và trụ trên ấy, quên đi việc niệm và ghi nhận. Ðó là hành giả đang đi vào Thiền Ðịnh hay Chỉ (Samatha). Hơn 90% người tu thiền, sau khoản thời gian điều phục được hôn trầm và loạn tưởng đều rơi vào 1 trạng thái an lạc, rồi cố gắng kéo dài sự nhập định (từ 2 cha tiếng đồng hồ cho tới 1 ngày hoặc hơn nữa) để hưởng an lạc. Lúc tới trạng thái an lạc này, cần buộc phải đi tìm Thầy hoặc thiện tri thức, trình chỗ sơ đắc của mình để được chỉ dẫn thêm.

Tứ Niệm Xứ thuộc về Thiền Tuệ hay Thiền Minh Sát (Vipassanà-Bhàvanà). Chỉ có Thiền Tuệ new khiến phát sinh trí tuệ, giúp cho hành giả thấy rõ được thực tướng của vạn hữu, diệt trừ tận gốc của vô minh, đưa tới giải thoát. Còn Thiền Ðịnh (Samatha) chỉ đưa hành giả tới những cơn định (Samàdhi) trong ấy hành giả hưởng sự an lạc nhất thời, ko tạo thêm nghiệp new, nhưng trí huệ ko phát triển thành, và những phiền não gốc vẫn còn nguyên chưa diệt trừ, do ấy ko thể đưa tới giải thoát.

8. Kết luận

Pháp hành Thiền Tứ Niệm Xứ Minh Sát Tuệ (Satipatthàna-Vipassanà) bao hàm việc thành tựu tri kiến bằng phương pháp xem quản lý, thấy sự vật đúng theo thực tướng của nó (yathàbhutam). Tri kiến này vượt ra bên cạnh mọi lý luận hay quán niệm được có do trí thức, và tiến tới những chứng nghiệm thực sự về đời sống cùng sự vật liên quan tới cuộc sống.

Hoàn toàn thấu triệt được thực tướng của vạn pháp như vậy, hoàn toàn nhận thức bản chất thực sự của ngũ uẩn, hành giả sống độc lập, ko cố bám vào sự vật gì trên thế gian.

9. Phụ Lục

Kinh Quán Niệm (Satipatthana Sutta)

Như vầy, tôi nghe: 1 thuở nọ Ðức Thế Tôn đang cư trú trên Kammassadhamma, 1 khu phố của dân Kuru. Lúc bấy giờ ngài gọi chư nâng cao: “Này những thầy”. Chư nâng cao đáp: “Dạ, thưa Ðức Thế Tôn”. Phật nói: “Những thầy lắng nghe, có 1 con đường duy nhất để thanh lọc bản thân, vượt thắng phiền não, tiêu trừ ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng nhập Niết Bàn, ấy là 4 phép quán niệm. Những gì là 4?

Ðó là, này những thầy, người hành giả:

1/ Quán niệm thân thể nơi thân thể, tinh chuyên và ý thức rõ ràng về thân thể, khiến chủ được mọi tham dục và ưu tư trong cuộc đời.

2/ Quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ, tinh chuyên và ý thức rõ ràng về cảm thọ, khiến chủ được mọi tham dục và ưu tư trong cuộc đời.

3/ Quán niệm tâm thức nơi tâm thức, tinh chuyên và ý thức rõ ràng về tâm thức, khiến chủ được mọi tham dục và ưu tư trong cuộc đời.

4/ Quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, ý thức rõ ràng về đối tượng tâm thức, khiến chủ được mọi tham dục và ưu tư trong cuộc đời.

Này những thầy, người hành giả quán niệm thân thể nơi thân thể bằng phương pháp nào?

Người đấy tới 1 khu rừng hoặc 1 gốc cây, hoặc 1 nơi thanh vắng, ngồi xuống theo tư thế kiết già, giữ lưng ngay thẳng và đặt mình trong sự quán niệm. Thở vào người đấy ý thức rõ ràng mình đang thở vào, thở ra người đấy ý thức mình đang thở ra. Hoặc lúc thở vào 1 tương đối dài, người đấy ý thức: ‘Tôi đang thở vào 1 tương đối dài’. Lúc thở ra 1 tương đối dài, người đấy ý thức: ‘Tôi đang thở ra 1 tương đối dài’. Hoặc lúc thở vào 1 tương đối ngắn, người đấy ý thức: ‘Tôi đang thở vào 1 tương đối ngắn’. Lúc thở ra 1 tương đối ngắn, người đấy ý thức: ‘Tôi đang thở ra 1 tương đối ngắn’. Người đấy tự động mình tập luyện như sau: ‘Tôi sẽ thở vào và cảm nghiệm toàn thân’. ‘Tôi sẽ thở ra và cảm nghiệm toàn thân’. ‘Tôi sẽ thở vào và khiến lắng dịu sự điều hành trong thân thể’. ‘Tôi sẽ thở ra và khiến lắng dịu sự điều hành trong thân thể’.

Cũng như lúc xoay 1 vòng dài, 1 người thợ tiện khéo tay ý thức rằng mình đang xoay 1 vòng dài; hoặc lúc xoay 1 vòng ngắn, ý thức rằng mình đang xoay 1 vòng ngắn. Cũng vậy, người hành giả lúc thở vào 1 tương đối dài ý thức rằng mình đang thở vào 1 tương đối dài; lúc thở ra 1 tương đối ngắn ý thức rằng mình đang thở ra 1 tương đối ngắn. Người đấy tự động mình tập luyện như sau:’ Tôi sẽ thở vào và cảm nghiệm toàn thân… Tôi sẽ thở ra và khiến lắng dịu sự điều hành trong thân thể’.

Cứ như thế, hành giả sống trong sự thường trực quán niệm thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên bên cạnh, hoặc cả bên trong lẫn bên bên cạnh thân thể. Hoặc quán niệm quy trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quy trình hủy diệt nơi thân thể, hoặc quy trình sinh khởi lẫn quy trình hủy diệt. Hoặc quán niệm: ‘Có thân thể đây’ đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của thân thể, và như vậy người đấy sống 1 phương pháp tự động do ko bám víu vào bất cứ thứ gì trong cuộc đời. Cứ như thế mà người hành giả quán niệm thân thể nơi thân thể.

Lại nữa, này những thầy, lúc đi, hành giả cũng ý thức rằng mình đang đi; lúc đứng, ý thức rằng mình đang đứng; lúc ngồi, ý thức rằng mình đang ngồi; lúc nằm, ý thức rằng mình đang nằm. Bất cứ thân thể mình đang được xử dụng trong tư thế nào, hành giả cũng ý thức được về tư thế đấy.

Cứ như thế, hành giả sống trong sự thường trực quán niệm thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên bên cạnh, hoặc cả bên trong lẫn bên bên cạnh thân thể. Hoặc quán niệm quy trình sinh khởi nơi thân thể, hoặc quy trình hủy diệt nơi thân thể, hoặc quy trình sinh khởi lẫn quy trình hủy diệt. Hoặc quán niệm: ‘Có thân thể đây’ đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của thân thể, và như vậy người âý sống 1 phương pháp tự động do ko bám víu vào bất cứ thứ gì trong cuộc đời. Cứ như thế mà hành giả quán niệm thân thể nơi thân thể.

Lại nữa, lúc đi tới hoặc đi lui, hành giả cũng ý thức rõ ràng về việc đấy; lúc nhìn trước hay nhìn sentayho.com.vn cúi xuống hoặc vươn lêsentayho.com.vn mặc áo, mang trong mình y básentayho.com.vn ăn, uống, nhai, nếm thức ăsentayho.com.vn đi đại tiện hay tiểu tiệsentayho.com.vn đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói năng hoặc lặng lặng, hành giả cũng đều ý thức rõ ràng về từng việc.

Cứ như thế, hành giả sống… quán niệm thân thể nơi thân thể.

Lại nữa, hành giả quán niệm rõ ràng về chính thân thể này, bao bọc trong 1 lớp da và chứa đầy loại bất tịnh, từ gót chân trở lên và từ đỉnh đầu trở xuống, có nào là: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành phương pháp mạc, lá lách, phổi, ruột, bao tử, phân, mật, đờm, máu, mủ, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước bọt, nước trên khớp xương, nước tiểu.

Ví như có 1 bao tải đựng đủ nhiều loại ngũ li, như gạo lứt, gạo hẻo rằng, đậu xanh, đậu ngự, mè, gạo trắng và 2 đầu bao tải có thể mở ra. 1 người có mắt phải chăng, lúc mở bao ra, thấy rõ mọi loại hạt đựng trong bao: đây là gạo lứt, gạo hẻo rằng, đậu xanh, đậu ngự, mè, gạo trắng. Cũng như thế, lúc quán sát về chính thân thể mình, hành giả thấy được mọi thứ từ gót chân lên đỉnh đầu và từ đỉnh đầu xuống tới gót chân, bao bọc trong 1 lớp da và chứa đầy loại bất tịnh: thuộc về thân thể này, có nào là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành phương pháp mạc, lá lách, phổi, ruột, bao tử, phân, mật, đờm, máu, mủ, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước bọt, nước trên khớp xương, nước tiểu.

Cứ như thế, hành giả sống… quán niệm thân thể nơi thân thể.

Lại nữa, trong bất cứ tư thế nào của thân thể này, hành giả cũng quán chiếu về những khía cạnh tạo nên thân thể: ‘Trong thân thể này có khía cạnh rắn cứng cáp, khía cạnh lưu nhuận, khía cạnh viêm nhiệt và khía cạnh chuyển động’. Như 1 người đồ tể rành nghề thịt 1 con bò, ngồi giữa ngã tư mà xẻ con bò ra thành nhiều phần, hành giả cũng vậy, trong bất cứ tư thế nào của thân thể này, cũng quán chiếu những khía cạnh tạo nên thân thể: ‘Trong thân thể này có khía cạnh rắn cứng cáp, khía cạnh lưu nhuận, khía cạnh viêm nhiệt và khía cạnh chuyển động’.

Cứ như thế, hành giả sống… quán niệm thân thể nơi thân thể.

Lại ví như lúc thấy 1 xác chết, bị liệng bỏ vào bãi tha ma đã được 1 ngày, 2 ngày hay cha ngày, sình lên, thâm tím, thối rữa, hành giả liền quán chiếu về thân thể mình: ‘Chính thân thể ta đây cũng vậy, sẽ trở nên như thế, ko có lối nào hạn chế thoát’.

Cứ như thế, hành giả sống… quán niệm thân thể nơi thân thể.

Rồi như thấy 1 xác chết bị liệng bỏ trong bãi tha ma, bị quạ rỉa hoặc diều hâu, kên kên, hoặc chó sói rừng ăn và những loài dòi bọ rúc rỉa, hành giả liền quán chiếu về thân thể mình: ‘Chính thân thể ta đây cũng vậy, sẽ trở nên như thế, ko có lối nào hạn chế thoát’.

Cứ như thế hành giả sống… quán niệm thân thể nơi thân thể.

Rồi như thấy 1 xác chết bị liệng bỏ trong bãi tha ma, chỉ còn là 1 bộ xương dính ít thịt và máu, còn nối liền nhau nhờ có gân cốt;… hoặc ko còn thịt nhưng còn dính chút máu;… hoặc ko còn chút thịt và chút máu nào;… hoặc những khúc xương bị vứt đi rạc ấy đây, ko còn dính liền nhau nữa, chỗ này là xương tay, chỗ kia là xương bàn chân, chỗ này là xương cẳng, chỗ kia là xương mông, đây là xương sống, kia là đầu nhiều ngày, hành giả liền quán chiếu về thân thể mình…

Cứ như thế hành giả sống… quán niệm thân thể nơi thân thể.

Rồi như thấy 1 xác chết bị liệng bỏ trong bãi tha ma, chỉ còn lại 1 mớ xương trắng màu sắc vỏ ốc… 1 mớ xương khô đã hơn 1 5… 1 mớ xương phần tan thành bụi, hành giả liền quán chiếu về thân thể mình…

Cứ như thế hành giả sống… quán niệm thân thể nơi thân thể.

Này những thầy, người hành giả quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ bằng phương pháp nào?

Từng lúc có 1 cảm thọ khoái lạc, hành giả ý thức rằng: ‘Ta đang có 1 cảm thọ khoái lạc’. Từng lúc có 1 cảm thọ khổ đau, hành giả ý thức rằng: ‘Ta đang có 1 cảm thọ khổ đau’. Từng lúc có 1 cảm thọ ko khoái lạc cũng ko khổ đau, hành giả ý thức rằng: ‘Ta đang có 1 cảm thọ ko khoái lạc cũng ko khổ đau’. Lúc có 1 cảm thọ khoái lạc vật chất, hành giả ý thức rằng mình đang có 1 cảm thọ khoái lạc vật chất. Lúc có 1 cảm thọ khoái lạc tinh thần, hành giả ý thức rằng mình đang có 1 cảm thọ khoái lạc tinh thần. Lúc có 1 cảm thọ khổ đau vật chất… 1 cảm thọ khổ đau tinh thần, hành giả ý thức rằng mình đang có 1 cảm thọ khổ đau vật chất… 1 cảm thọ khổ đau tinh thần. Lúc có 1 cảm thọ vật chất… 1 cảm thọ tinh thần ko khoái lạc cũng ko khổ đau, hành giả ý thức rằng mình có 1 cảm thọ vật chất… 1 cảm thọ tinh thần ko khoái lạc cũng ko khổ đau.

Cứ như thế hành giả sống trong sự thường trực quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ, hoặc bên trong hoặc bên bên cạnh, hoặc cả bên trong lẫn bên bên cạnh cảm thọ. Hoặc quán niệm quy trình sinh khởi của cảm thọ, hoặc quy trình hủy diệt của cảm thọ, hoặc quy trình sinh khởi lẫn quy trình hủy diệt. Hoặc quán niệm: ‘Có cảm thọ đây’ đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của cảm thọ, và như vậy người đấy sống 1 phương pháp tự động do, ko bám víu vào bất cứ thứ gì trong cuộc đời. Cứ như thế mà hành giả quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ.

Này những thầy, hành giả quán niệm tâm thức nơi tâm thức bằng phương pháp nào?

Từng lúc tâm thức có tham dục, hành giả ý thức là tâm thức mình có tham dục. Lúc ko có tham dục, hành giả ý thức là tâm thức mình ko có tham dục. Từng lúc tâm thức có sân hận, hành giả ý thức là tâm thức mình có sân hận. Lúc tâm thức ko có sân hận, hành giả ý thức là tâm thức mình ko có sân hận. Từng lúc tâm thức có si mê, hành giả ý thức là tâm thức mình có si mê. Lúc ko có si mê, hành giả ý thức là tâm thức mình ko có si mê. Từng lúc tâm thức có thu nhiếp… là tâm thức mình có thu nhiếp. Lúc tâm thức đang tán loạn… là tâm thức mình đang tán loạn. Từng lúc tâm thức trở nên rộng lớn… là tâm thức mình trở nên rộng lớn. Từng lúc tâm thức trở nên hạn hẹp… là tâm thức mình trở nên hạn hẹp. Từng lúc tâm thức đạt tới trạng thái cao nhất… là tâm thức mình đạt tới trạng thái cao nhất. Lúc ko đạt tới trạng thái cao nhất… là tâm thức mình ko đạt tới trạng thái cao nhất. Từng lúc tâm thức có định… là tâm thức mình có định. Lúc ko có định… là tâm thức mình ko có định. Từng lúc tâm thức được giải thoát… là tâm thức mình được giải thoát. Lúc ko có giải thoát… là tâm thức mình ko có giải thoát.

Cứ như thế, hành giả sống trong sự thường trực quán niệm tâm thức nơi tâm thức, hoặc bên trong, hoặc bên bên cạnh, hoặc cả bên trong lẫn bên bên cạnh tâm thức. Hoặc quán niệm quy trình sinh khởi nơi tâm thức, hoặc quy trình hủy diệt nơi tâm thức, hoặc quy trình sinh khởi lẫn quy trình hủy diệt. Hoặc quán niệm: ‘Có tâm thức đây’ đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của tâm thức, và như vậy người đấy sống 1 phương pháp tự động do ko bám víu vào bất cứ thứ gì trong cuộc đời. Cứ như thế mà hành giả quán niệm tâm thức nơi tâm thức.

Này những thầy, hành giả quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức bằng phương pháp nào?

Trước hết hành giả quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức về 5 hiện tượng ngăn che. Quán niệm bằng phương pháp nào?

1. Lúc có niệm tình ái dục, hành giả ý thức rằng mình có tình ái dục. Lúc ko có tình ái dục, hành giả ý thức rằng mình ko có tình ái dục. Lúc 1 niệm tình ái dục chưa sanh, nay khởi đầu phát sanh, hành giả ý thức được sự phát sanh đấy. Lúc 1 niệm tình ái dục đã sanh, đang được khử diệt, hành giả ý thức được sự khử diệt đấy. Lúc 1 niệm tình ái dục đã được khử diệt và ko còn phát khởi lại nữa, hành giả cũng ý thức được điều ấy.

2. Lúc có sân hận, hành giả ý thức rằng mình có sân hận. Lúc ko có sân hận, hành giả ý thức rằng mình ko có sân hận. Lúc 1 niệm sân hận chưa sanh, nay khởi đầu phát sanh, hành giả ý thức được sự phát sanh đấy. Lúc 1 niệm sân hận đã sanh, đang được khử diệt, hành giả ý thức được sự khử diệt đấy. Lúc 1 niệm sân hận đã được khử diệt và ko còn phát khởi lại nữa, hành giả cũng ý thức được điều ấy.

3. Lúc có mê muội và buồn ngủ, hành giả ý thức rằng mình có mê muội và buồn ngủ….

4. Lúc có giao động và bất an, hành giả ý thức rằng mình có giao động và bất an….

5. Lúc có nghi ngờ, hành giả ý thức rằng mình có nghi ngờ….

Cứ như thế, hành giả sống trong sự thường trực quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc bên trong, hoặc bên bên cạnh, hoặc cả bên trong lẫn bên bên cạnh đối tượng tâm thức. Hoặc quán niệm quy trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quy trình hủy diệt nơi đối tương tâm thức, hoặc quy trình sinh khởi lẫn quy trình hủy diệt. Hoặc quán niệm:’Có đối tượng tâm thức đây’ đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của đối tượng tâm thức, và như vậy người đấy sống 1 phương pháp tự động do ko bám víu vào bất cứ thứ gì trong cuộc đời. Cứ như thế mà hành giả quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức về 5 hiện tượng ngăn che.

Tiếp theo, hành giả quán niệm về sự bám víu vào 5 uẩn, như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm bằng phương pháp nào?

Hành giả quán niệm như sau: ‘Ðây là hình sắc vật chất, đây là sự phát sinh của hình sắc vật chất, và đây là sự hủy diệt của hình sắc vật chất. Ðây là cảm thọ, đây là sự phát sinh của cảm thọ, và đây là sự hủy diệt của cảm thọ. Ðây là tri giác, đây là sự phát sinh của tri giác, và đây là sự hủy diệt của tri giác. Ðây là dẫn lực (hành), đây là sự phát sinh của dẫn lực, và đây là sự hủy diệt của dẫn lực. Ðây là ý thức, đây là sự phát sinh của ý thức, và đây là sự hủy diệt của ý thức.

Cứ như thế hành giả sống… quán niệm về sự bám víu vào 5 uẩn.

Tiếp theo, hành giả quán niệm về 6 giác quan và 6 loại đối tượng, như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm như thế nào?

Hành giả ý thức về mắt và đối tượng của mắt là hình sắc, về sự ràng buộc tạo nên do mắt và hình sắc. Hành giả ý thức về sự ràng buộc chưa sanh nay đang phát sanh, về sự ràng buộc đã phát sanh nay đang được khử diệt, về sự ràng buộc đã được khử diệt và ko còn tái phát lại nữa.

Hành giả ý thức về tai và âm thanh,… ý thức về mũi và mùi vị hương,… ý thức về lưỡi và vị nếm,… ý thức về thân và sự xúc chạm,… ý thức về ý và tư tưởng…

Cứ như thế hành giả sống… quán niệm về 6 giác quan và 6 loại đối tượng.

Tiếp theo, hành giả quán niệm về 7 khía cạnh của sự giác ngộ, như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm như thế nào?

1. Lúc có khía cạnh chánh niệm, hành giả ý thức là mình có chánh niệm; lúc ko có chánh niệm, hành giả ý thức là mình ko có chánh niệm. Hành giả có ý thức về 1 chánh niệm chưa sanh nay đang phát sanh, 1 chánh niệm đã phát sanh nay đang thành tựu.

2. Lúc có khía cạnh trạch pháp, hành giả ý thức là mình có trạch pháp…

3. Lúc có khía cạnh tinh tấn, hành giả ý thức là mình có tinh tấn

4. Lúc có khía cạnh hoan hỷ, hành giả ý thức là mình có hoan hỷ…

5. Lúc có khía cạnh khinh an, hành giả ý thức là mình có khinh an…

6. Lúc có khía cạnh định, hành giả ý thức là mình có định…

7. Lúc có khía cạnh hành xả, hành giả ý thức là mình có hành xả

Cứ như thế, hành giả sống… quán niệm về 7 khía cạnh của sự giác ngộ.

Tiếp theo, hành giả quán niệm về 4 sự thực cao quý như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức. Quán niệm như thế nào?

Lúc sự kiện là khổ đau, hành giả quán niệm: ‘Ðây là khổ đau’. Lúc sự kiện là nguyên nhân đưa tới khổ đau, hành giả quán niệm: ‘Ðây là nguyên nhân đưa tới khổ đau’. Lúc sự kiện là sự chấm dứt khổ đau, hành giả quán niệm: ‘Ðây là sự chấm dứt khổ đau’. Lúc sự kiện là con đường dẫn tới sự chấm dứt khổ đau, hành giả quán niệm: ‘Ðây là con đường dẫn tới sự chấm dứt khổ đau’.

Cứ như thế, hành giả sống trong sự thường trực quán niệm về 4 sự thực cao quý như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên bên cạnh, hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên bên cạnh đối tượng. Hoặc quán niệm quy trình sinh khởi nơi đối tượng tâm thức, hoặc quy trình hủy diệt nơi tâm thức, hoặc quy trình sinh khởi lẫn quy trình hủy diệt. Hoặc quán niệm: ‘Có đối tượng tâm thức đây’ đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của đối tượng tâm thức, và như vậy người đấy sống 1 phương pháp tự động do ko bám víu vào bất cứ thứ gì trong cuộc đời. Cứ như thế mà hành giả quán niệm về 4 sự thực cao quý như đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức.

Này những thầy, người nào thực hành 4 phép quán niệm như trên trong 7 5, người đấy có thể đạt được quả vị chánh trí (1) ngay trên đây và trong đời này, hoặc trường hợp còn dư báo thì cũng đạt được quả vị ko còn trở lại (2). Này những thầy, đừng nói gì tới 7 5, người nào thực hành 4 phép quán niệm trên trong 6 5, hoặc 5 5, 4 5, cha 5, 2 5 hoặc 1 5 thì cũng có thể trông chờ đạt được quả vị chánh trí ngay trên đây và trong đời này. Này những thầy, đừng nói gì tới 1 5, người nào thực hành 4 phép quán niệm trên trong 7 tháng, hoặc 6 tháng, 5 tháng, 4 tháng, cha tháng, 2 tháng, 1 tháng, hoặc nửa tháng thì cũng có thể trông chờ đạt được quả vị chánh trí…

Này những thầy, đừng nói gì tới nửa tháng, người nào thực hành 4 phép quán niệm trên trong 1 tuần, người đấy cũng có thể trông chờ đạt được quả vị chánh trí ngay trên đây và trong đời này, hoặc trường hợp còn dư báo thì cũng đạt được quả vị ko còn trở lại.

Chính vì nguyên nhân ấy mà tôi đã nói: ‘Có 1 con đường duy nhất để thanh lọc bản thân, vượt thắng phiền não, tiêu diệt khổ ưu, đạt tới chánh đạo, chứng nhập Niết Bàn, ấy là con đường của 4 phép quán niệm’. Ðức Thế Tôn nói xong, chư nâng cao hoan hỷ ghi nhận và khiến theo lời ngài.

(1) Chánh trí có nghĩa là A La Hán. (2) Quả Thánh thứ cha, Bất Lai (A Na Hàm).

– Hết –